Chiều ngày 26 tháng 5 và ngày 16 tháng 6 năm 2015, Quốc hội đã thảo luận ở Tổ và Hội trường về dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi) (BLHS). Đoàn Thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội như sau:

1. Về sự cần thiết, quan điểm và phạm vi sửa đổi của dự án BLHS

-Nhiều ý kiến tán thành với việc sửa đổi toàn diện BLHS, đánh giá cao những điểm mới trong dự thảo Bộ luật, thể hiện nhiều tư tưởng tiến bộ, đáp ứng yêu cầu cụ thể hóa Hiến pháp và định hướng cải cách tư pháp.

-Có ý kiến đề nghị cân nhắc chính sách hình sự trên cơ sở đánh giá  hiệu quả phòng ngừa tội phạm qua việc tăng nặng hình phạt, tính nghiêm minh của pháp luật không đồng nhất với việc phải quy định hình phạt thật nặng. Cần quán triệt định hướng cải cách tư pháp là tăng tính hướng thiện của hệ thống hình phạt, giảm hình phạt tù, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình.

-Một số ý kiến cho rằng, quan điểm, mục tiêu sửa đổi BLHS chưa nhất quán, có biểu hiện “hữu khuynh”, quy định giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt chỉ nhân đạo với một số ít (người phạm tội), nhưng không nhân đạo với xã hội.

- Có ý kiến đề nghị cân nhắc phạm vi sửa đổi, BLHS hiện hành có nhiều chương, nhiều quy định còn giá trị cao trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, do đó, chỉ sửa đổi, bổ sung các quy định bất cập; việc hình sự hóa một số hành vi vi phạm thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn (ví dụ: Tội rải đinhhoặc vật sắc, nhọn trên đường bộ); báo cáo giải trình, báo cáo tác động chưa làm rõ về việc hình sự hóa một số vi phạm.

2. Về quy định tội phạm và hình phạt trong luật chuyên ngành (mở rộng nguồn của luật hình sự)

-  Đa số ý kiến đề nghị không mở rộng nguồn của pháp luật hình sự. Việc ban hành BLHS là thành tựu quan trọng 30 năm qua, việc quy định thống nhất tội phạm và hình phạt trong BLHS bảo đảm sự thống nhất, thuận lợi cho việc áp dụng.

- Một số ý kiến tán thành việc quy định tội phạm và hình phạt trong luật chuyên ngành. Việc bổ sung chế tài hình sự trong luật chuyên ngành nhằm tăng cường tính hiệu lực của luật chuyên ngành cũng như tính hiệu quả trong quản lý nhà nước ở lĩnh vực mà luật chuyên ngành đó điều chỉnh.

- Có ý kiến đề nghị áp dụng nguyên tắc, thông qua luật chuyên ngành để sửa đổi một số điều cụ thể của BLHS, sau đó pháp điển hóa vào BLHS hoặc khi soạn thảo luật chuyên ngành, có thể ban hành một nghị quyết sửa đổi, bổ sung các điều luật cụ thể của BLHS nhằm bảo đảm tính kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

 - Có ý kiến nhất trí với việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự, nhưng cần phân loại cụ thể: những tội phạm mang tính truyền thống (trộm cắp, lừa đảo, giết người, hiếp dâm,…) và những tội phạm có hình phạt từ 7 năm tù trở lên thì quy định trong BLHS. Những tội phạm có hình phạt dưới 7 năm tù và tội phạm trong những lĩnh vực chuyên biệt thì nên quy định ở những luật chuyên ngành hoặc luật chuyên ngành chỉ quy định về tội phạm, còn hình phạt được quy định trong BLHS.

- Có ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ hơn, cung cấp thêm thông tin để lựa chọn về vấn đề này.

3. Về bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong BLHS

- Nhiều ý kiến tán thành việc quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân vì các lý do:

+ Đáp ứng yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của các pháp nhân ngày càng gia tăng, nhất là trong lĩnh vực môi trường, trong khi các biện pháp xử phạt hành chính không xử lý được triệt để;

+ Phù hợp với pháp luật trên thế giới, việc xử lý vi phạm pháp luật phải giao cho Tòa án xét xử. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, quy định TNHS của pháp nhân còn nhằm bảo đảm công bằng giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài;

+ Xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chứng minhtội phạm và làm rõ hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm của pháp nhân, không đẩy trách nhiệm cho người dân.

- Về phạm vi TNHS và hình phạt đối với của pháp nhân:

+ Có ý kiến đề nghị, ngoài 15 tội danh như dự thảo Bộ luật, cần bổ sung Tội sản xuất, buôn bán hàng giả và Tội vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm;

+ Có ý kiến đề nghị quy định TNHS của pháp nhân trong phạm vi hẹp như: rửa tiền, tài trợ khủng bố và gây ô nhiễm môi trường để rút kinh nghiệm;

+ Có ý kiến đề nghị chỉ loại trừ TNHS cho pháp nhân là cơ quan công quyền;

+ Có ý kiến đề nghị cần xác định rõ địa vị pháp lý của từng loại hình pháp nhân để phân hóa về trách nhiệm trong trường hợp pháp nhân đa sở hữu (công ty cổ phần, công ty mẹ, công ty con...);

+ Có ý kiến đề nghị cân nhắc hình phạt tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, vì đã được Luật xử lý vi phạm hành chính quy định, tránh việc hình sự hóa quan hệ hành chính;

+ Có ý kiến đề nghị cùng với việc quy định TNHS của pháp nhân thì cần tính toán đến vấn đề an sinh xã hội trong trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động của pháp nhân.

- Nhiều ý kiến đề nghị không bổ sung TNHS của pháp nhân, vì đã có chế tài dân sự, hành chính để xử lý. Khi pháp nhân vi phạm có thể cá thể hóa TNHS, truy tố các cá nhân tham gia vào quá trình ra quyết định, hơn nữa, chế tài hình sự trong dự thảo Bộ luật cũng tương tự như chế tài hành chính. Mặt khác việc chỉ quy định TNHS đối với pháp nhân kinh tế sẽ không bảo đảm công bằng giữa các loại hình pháp nhân.

- Một số ý kiến đề nghị Chính phủ cần làm rõ hơn sự cần thiết phải quy định TNHS của pháp nhân vì vấn đề này sẽ làm thay đổi căn bản khái niệm về tội phạm và hình phạt. Đồng thời, cần làm rõ các cam kết quốc tế của Việt Nam có liên quan đến xử lý pháp nhân vi phạm pháp luật.

4. Về hạn chế hình phạt tử hình

4.1. Về số tội danh dự kiến bỏ hình phạt tử hình

- Một số ý kiến tán thành bỏ hình phạt tử hình ở 07 tội danh như dự thảo BLHS.

- Nhiều ý kiến đề nghị không bỏ hình phạt tử hình đối với các tội: chống loài người, phá hoại hòa bình, tội phạm chiến tranh; vận chuyển trái phép chất ma túy; tham nhũng (tham ô, nhận hối lộ); phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; cướp tài sản.

- Một số ý kiến đề nghị không bỏ hình phạt tử hình đối với các tội: đầu hàng địch; chống mệnh lệnh; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm.

- Một số ý kiến tán thành việc bỏ hình phạt tử hình đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm nhưng đề nghị giữ hình phạt tử hình đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc phòng bệnh,  thuốc chữa bệnh;

- Có ý kiến đồng ý với việc tách Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thành các tội danh độc lập và bỏ hình phạt tử hình đối với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; có ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo cung cấp số liệu thực tế xét xử Tội vận chuyển trái phép chất ma túy để có cơ sở xem xét bỏ hình phạt tử hình với tội danh này.

 -Có ý kiến đề nghị bỏ hình phạt tử hình ở các tội: tham ô, nhận hối lộ, sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh vì thực tế việc truy tố, xét xử các tội này từ trước đến nay rất ít; có ý kiến đề nghị bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm về kinh tế.

- Có ý kiến cho rằng, không nên đặt vấn đề bỏ hình phạt tử hình bằng mọi giá, vì theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc bỏ hình phạt tử hình là điều khoản tùy nghi.

 4.2. Về các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình

 -Một số ý kiến tán thành quy định tại khoản 2 Điều 39 dự thảo Bộ luật về các trường hợp không áp dụng án tử hình.

- Một số ý kiến đề nghị không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội thuộc các trường hợp: là nữ giới; người từ 75 hoặc 80 tuổi trở lên; là tượng chính sách; người mắc bệnh AIDS, ung thư giai đoạn cuối; người sau khi phạm tội đã mất hoàn toàn năng lực hành vi.

- Nhiều ý kiến đề nghị không quy định loại trừ áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ 70 tuổi trở lên.

4.3. Về các trường hợp không thi hành án tử hình

- Một số ý kiến tán thành quy định không thi hành án tử hình đối với người phạm tội từ 70 tuổi trở lên.

- Có ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 39 dự thảo Bộ luật để tránh việc lợi dụng kẽ hở của pháp luật.

- Nhiều ý kiến đề nghị bỏ điểm c khoản 3 Điều 39 vì quy định này không công bằng, sẽ khuyến khích người phạm tội chỉ khắc phục hậu quả khi  bị kết ántử hình,dễ dẫn tới hiểu là dùng tiền để thoát án tử hình, hơn nữa không xác định rõ “phạm tội vì mục đích kinh tế” (tội phạm ma túy cũng vì mục đích kinh tế). 

5. Về việc bổ sung cơ chế chuyển phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ thành tù trong trường hợp người bị kết án không chấp hành án

- Một số ý kiến tán thành bổ sung cơ chế này nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền. Tuy nhiên, đề nghị quy định chặt chẽ điều kiện, quy trình tố tụng của việc chuyển đổi.

- Có ý kiến đề nghị chỉ quy định cơ chế chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù.

- Nhiều ý kiến đề nghị không quy định chuyển hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù, vì không nên cùng lúc áp dụng 2 loại hình phạt khác nhau. Trường hợp không thi hành hình phạt sẽ bị truy tố về tội không chấp hành án; việc chuyển đổi hình phạt sẽ làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và không khả thi.   

- Có ý kiến đề nghị nghiên cứu, bổ sung cơ chế chuyển hình phạt tù thành hình phạt tiền để áp dụng đối với một số loại tội phạm kinh tế, tham nhũng để có thể thu hồi tài sản phạm pháp; có ý kiến đề nghị bỏ quy định hình phạt tiền đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp.

- Có ý kiến đề nghị xây dựng hình phạt tiền trên căn cứ là mức lương cơ bản; có ý kiến đề nghị bổ sung thêm yếu tố “sự biến động của giá cả” vào khoản 3 Điều 35 và khoản 3 Điều 77 dự thảo Bộ luật.

6. Về các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội

6.1. Về độ tuổi và phạm vi chịu TNHS của người chưa thành niên

- Nhiều ý kiến đề nghị giữ quy định độ tuổi và phạm vi chịu TNHS của người chưa thành niên (NCTN) như hiện hành, vì thực tế vấn đề này đến nay không vướng mắc.

- Một số ý kiến tán thành quy định tại phương án 1 Điều 12 của dự thảo Bộ luật, quy định rõ các tội danh mà NCTN phải chịu TNHS; có ý kiến cho rằng, nếu chỉ truy cứu 16 tội danh như phương án 1 khoản 2 Điều 12 sẽ bỏ lọt nhiều tội phạm, do vậy đề nghị cần rà soát kỹ, bảo đảm nhất quán theo quan điểm chỉ đạo sửa đổi BLHS.

- Có ý kiến đề nghị giảm độ tuổi chịu TNHS của NCTN xuống “từ đủ 13 tuổi”; có ý kiến đề nghị sửa đổi theo hướng, có thể áp dụng hình phạt tử hình hoặc tăng mức hình phạt so với quy định hiện hành đối với trường hợp NCTN phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

- Có ý kiến đề nghị không loại trừ hoàn toàn TNHS đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội (Điều 14).

- Có ý kiến đề nghị giữ quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS hiện hành về miễn TNHS đối với NCTN. Tuy nhiên, cần thay cụm từ “có thể được miễn” và quy định cụ thể những trường hợp được miễn.

6.2. Về các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với NCTN phạm tội

-  Một số ý kiến tán thành việc bổ sung các biện pháp xử lý thay thế đối với NCTN phạm tội; có ý kiến đề nghị chỉ áp dụng đối với NCTN từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc NCTN đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý.

-  Một số ý kiến đề nghị cân nhắc tính khả thi của việc quy định các biện pháp xử lý thay thế đối với NCTN phạm tội, phạm vi áp dụng quá rộng trong khi  tác dụng răn đe, giáo dục không đạt yêu cầu; có ý kiến đề nghị giữ nguyên như quy định của BLHS hiện hành.

- Có ý kiến cho rằng, quy định các biện pháp xử lý thay thế hình sự trong dự thảo Bộ luật không phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính; có ý kiến đề nghị chuyển quy định tại các điều: 90, 91, 92 và 93 trong dự thảo Bộ luật sang Luật xử lý vi phạm hành chính mà không nên quy định ở BLHS.

- Có ý kiến đề nghị thay hình thức xử lý “khiển trách” bằng “phạt roi”.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan được giao xử lý NCTN phạm tội phải tạo điều kiện cho NCTN lao động, học nghề; đề nghị không sử dụng từ “họ” tại Điều 89 dự thảo Bộ luật.

7. Về các trường hợp được miễn TNHS(Điều 29) và các trường hợp loại trừ TNHS (Chương IV)

- Một số ý kiến tán thành quy định của dự thảo Bộ luật về các trường hợp được miễn TNHS, nhưng đề nghị quy định chặt chẽ, cụ thể các điều kiện áp dụng loại trừ TNHS đối với  từng trường hợp.

- Một số ý kiến cho rằng, quy định tại Điều 29 dự thảo BLHS không hợp lý, nội dung còn chồng chéo do chuyển từ các tình tiết giảm nhẹ TNHS sang, cần quy định cụ thể để tránh tạo kẽ hở (ví dụ: quy định việc miễn TNHS trong trường hợp “thay đổi hoàn cảnh”); quy định miễn TNHS tại điểm d khoản 1 đối với người phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng tự thú là không phù hợp, cần có sự phân hóa, tránh áp dụng tùy tiện.

8. Về quy định không xét giảm án đối với người bị kết án tử hình được ân giảm xuống thành tù chung thân (khoản 3 Điều 63)

- Một số ý kiến tán thành quy định người bị kết án tử hình được Chủ tịch nước cho ân giảm xuống phạt tù chung thân thì không được xét giảm án.

- Một số ý kiến cho rằng, nếu không quy định xét giảm án chongười bị kết án tù cải tạo tốt, thì sẽ không đạt được mục đích áp dụng hình phạt.

9. Về việc bãi bỏ một số tội

-Nhiều ý kiến tán thành việc bỏ các tội danh như quy định của dự thảo Bộ luật. Có ý kiến đề nghị rà soát bỏ thêm một số tội nhằm thể hiện sự minh bạch, an toàn cho môi trường đầu tư kinh doanh và tạo động lực phát triển kinh tế đất nước.

- Một số ý kiến đề nghị cân nhắc bỏ thêm một số tội danh sau: Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 147 BLHS hiện hành) vì HIV đang tiến tới chữa được, trong khi các dịch bệnh khác rất nguy hiểm lại không quy định (ví dụ: virut Ebola); Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 181) và Tội tổ chức tảo hôn (Điều 182), vì không phù hợp với phong tục đồng bào dân tộc miền núi; Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 205); Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 373).

- Có ý kiến đề nghị không bỏ Tội hoạt động phỉ (Điều 83 BLHS hiện hành); có ý kiến đề nghị giữ các tội danh quy định tại các điều 84 và 88 BLHS hiện hành.

- Có ý kiến đề nghị chưa nên bỏ Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, mà cần sửa đổi theo hướng, làm rõ dấu hiệu trái quy định của Nhà nước là trái quy định của các văn bản từ Nghị định trở lên. Việc giữ tội danh này nhằm xử lý hiệu quả loại tội phạm tham nhũng; có ý kiến đề nghị giải thích rõ cơ sở để phi tội phạm hóa đối với Tội kinh doanh trái phép và Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế.

10. Về bổ sung các tội phạm mới và sửa đổi một số tội danh

10.1. Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

- Có ý kiến tán thành với việc hình sự hóa hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục trong hôn nhân (vợ hoặc chồng cũng có thể là chủ thể của Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm); ý kiến khác đề nghị không hình sự hóa hành vi này trong quan hệ hôn nhân.

- Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn cấu thành Tội hiếp dâm trẻ em; có ý kiến đề nghị bổ sung Tội đe dọa lây truyền HIV hoặc bệnh nguy hiểm cho người khác; bổ sung Tội cố tình giấu tình trạng nhiễm HIV để kết hôn hoặc quan hệ tình dục với người khác.

- Có ý kiến đề nghị xem xét lại việcsửa đổi tại khoản 2 Điều 123 quy định Tội giết người với tình tiết định khung “giết ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh, chị, em ruột, người nuôi dưỡng mình” mà chỉ xử phạt đến 20 năm tù là không phù hợp; đối với tội hiếp dâm trẻ em, trường hợp làm nạn nhân có thai, đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của người phạm tội nếu đứa trẻ được ra đời.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung chủ thể là người bố đối với tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124).

- Có ý kiến đề nghị cần xác định rõ tình tiết “làm biến dạng diện mạo của nạn nhân” đến mức độ nào mới là tình tiết định khung ở khoản 4 Điều 131 dự thảo Bộ luật.

10.2. Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân

- Có ý kiến đề nghị sửa lại tên Chương XV thành “các tội xâm phạm quyền con người”.

- Có ý kiến đề nghị quy định hành vi “ép buộc” thực hiện quyền hội họp, lập hội tại Điều 162 thành 01 tội danh độc lập.

- Đề nghị bổ sung hành vi phỉ báng niềm tin, hình ảnh thiêng liêng của tín ngưỡng, tôn giáo là một dấu hiệu định tội của Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác.

-  Có ý kiến đề nghị bổ sung “Tội xâm phạm quyền bào chữa của người khác hoặc quyền của người bào chữa”; bổ sung “Tội xâm phạm đời tư”; đối với Điều 343 dự thảo Bộ luật, đề nghị bổ sung các dấu hiệu: “lợi dụng nhằm mục đích xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công dân”, “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm”.

10.3. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

-Có ý kiến đề nghị tách riêng và quy định hình phạt Tội sản xuất hàng giả nặng hơn Tội buôn bán hàng giả (từ Điều 194 đến Điều 197); phân biệt rõ trường hợp cố ý và vô ý buôn bán hàng giả do thủ đoạn của các đối tượng sản xuất hàng giả rất tinh vi.

 - Có ý kiến đề nghị xem xét lại quy định giảm nhẹ hình phạt đối với Tội quảng cáo gian dối (Điều 199) và cần tăng mức phạt tiền lên gấp 10 lần mức hiện tại kèm phạt tù.

- Cóý kiến đề nghị ghép chung Tội gian lận bảo hiểm xã hội (Điều 218) và Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 219), đồng thời bổ sung thêm đối tượng là “bảo hiểm thất nghiệp”;đề nghị bổ sung các tội danh: Tội trốn đóng bảo hiểm tai nạn lao động để phù hợp với Luật an toàn vệ sinh lao động; Tội lạm dụng tiền bảo hiểm xã hội của người lao động; Tội chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội. Về hình phạt, đối với các tội danh liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp phải tính trên số lượng người đóng bảo hiểm bị xâm hại.

- Có ý kiến đề nghị sửa Tội trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 217) thành “Tội lừa đảo trong kinh doanh bảo hiểm” để phù hợp mặt khách quan của hành vi; có ý kiến đềnghị không hình sự hóa các hành vi như: vi phạm quy định sử dụng điện (Điều 201); làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 216); trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 217) vì đây là quan hệ dân sự, doanh nghiệp phải tự bảo vệ mình; vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Điều 222). Có ý kiến đề nghị báo cáo đánh giá tác động việc bổ sung các tội danh trên, vì Luật xử lý vi phạm hành chính và luật chuyên ngành đã có quy định về xử lý vi phạm; có ý kiến đề nghị bổ sung dấu hiệu “đã bị xử lý vi phạm hành chính” vào Điều 201.

-Có ý kiến đề nghị chỉnh lý lạiĐiều 220 dự thảo Bộ luật, quy định không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ 06 tháng trở lên mới xử lý hình sự là không phù hợp; có ý kiến đề nghị làm rõ quy định thời hạn 06 tháng liên tục không đóng bảo hiểm hay tổng thời gian không đóng bảo hiểm là 06 tháng để làm căn cứ truy cứu TNHS.

-Một số ý kiến đề nghị bổ sung: Tội lãng phí gây hậu quả nghiêm trọng; Tội làm giàu bất hợp pháp; Tội bội tín; Tội làm suy yếu nền kinh tế và lợi ích quốc gia; Tội nợ thuế và làm rõ sự khác nhau giữa trốn thuế và nợ thuế.

10.4. Các tội phạm về ma túy

 - Có ý kiến đề nghị bổ sung các tội: mua bán trái phép tiền chất vào việc sản xuất trái phép chất ma túy; vận chuyển trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy; chiếm đoạt trái phép tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và tài trợ cho việc trồng và mua bán, vận chuyển cây thuốc phiện nhằm phù hợp với điều ước quốc tế về phòng chống  ma túy mà Việt Nam đã tham gia.

- Có ý kiến tán thành việc hình sự hóa hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt cây giống cây thuốc phiện hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy. Đồng thời, cần tách thành các tội độc lập để định tội chính xác và quy định khung hình phạt hợp lý; đề nghị ghép 03 điều: 244, 245 và 246 thành một tội danh vì dấu hiệu tội phạm, mức hình phạt gần giống nhau. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cân nhắc sự cần thiết hình sự hóa hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép cây giống cây thuốc phiện, vì hành vi này không phổ biến.

- Có ý kiến đề nghị không quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các tội phạm về ma túy; việc quy định “hàm lượng” ma túy là căn cứ để định tội danh và khung hình phạt là không phù hợp với thực tế đấu tranh với loại tội phạm này.

- Có ý kiến cho rằng, khung hình phạt ở nhiều tội danh trong Chương các tội phạm về ma túy không hợp lý. Ví dụ: khoản 1 Điều 262 quy định hình phạt từ 02 - 07 năm tù, khoản 2 lại quy định từ 05 - 10 năm tù...

10.5. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng

Có ý kiến đề nghị bổ sung 2 tội: tổ chức hoạt động mại dâm và bảo kê mại dâm. Hai hành vi này nếu ghép cùng tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm thì không phù hợp và chưa phân hóa được TNHS.

10.6.Các tội phạm về tham nhũng

- Một số ý kiến tán thành quy định hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư là tội phạm.

- Có ý kiến đề nghị gộp 3 tội: môi giới hối lộ, đưa hối lộ và nhận hối lộ vào cùng một mục “tội về hối lộ” để bảo đảm tính hợp lý.

- Có ý kiến đề nghị quy định mức hình phạt ở Tội đưa hối lộ (mục B Chương XXIII) tương đương với hình phạt của các tội ở mục A Chương này và xem xét lại tình tiết đưa hối lộ bằng lợi ích vật chất trong trường hợp chủ thể thực hiện tội phạm là pháp nhân.

10.7. Các tội phạm về môi trường

- Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể định lượng các tình tiết “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng rất lớn”, “đặc biệt lớn” tại điểm e khoản 2 Điều 231; khoản 1, khoản 3 Điều 232; khoản 1, khoản 2 Điều 234; khoản 1 Điều 235; khoản 2 b, khoản 3 a Điều.

- Có ý kiến đề nghị quy định rõ chủ thể tại khoản 1 Điều 234 là người đứng đầu của tổ chức; chủ thể tại khoản 1 Điều 236 gồm: người mua, người vận chuyển, người cho phép nhập cảnh, cho phép quá cảnh qua biên giới chất thải...

- Có ý kiến đề nghị làm rõ các căn cứ để xác định mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường; đề nghị xem xét lại Điều 234 vì quy định việc xâynhà, côngtrìnhtrongphạmvihànhlangbảovệantoàncôngtrìnhthủylợi, đê điều,...để xử lý hình sự là không phù hợp thực tế.

- Có ý kiến đề nghị đối với tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, động vật, thực vật (Điều 237, Điều 238), cần có hình phạt khác nhau giữa trường hợp cố ý làm lây lan dịch bệnh và vô ý làm lây lan dịch bệnh.

- Có ý kiến đề nghị không bổ sung dấu hiệu “đã bị xử lý hành chính” hoặc “gây hậu quả nghiêm trọng” vào điểm a khoản 1 Điều 241, mà cần giữ quy định tại Điều 190 BLHS hiện hành.

- Có ý kiến đề nghị tăng mức hình phạt đối với các tội phạm môi trường, tội phạm công nghệ cao vì mức hình phạt mà dự thảo Bộ luật quy định không đủ sức răn đe.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung tội danh quy định về hành vi vi phạm quy định về việc xả nước ở các hồ thủy điện, gây ảnh hưởng đối với đời sống người dân; bổ sung tội danh quy định về hành vi vi phạm các quy định về quản lý, vận hành công trình thủy điện.

10.8. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

-Có ý kiến đề nghị sửa đổi định nghĩa về tội xâm phạm hoạt động tư pháp như sau: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan được giao tiến hành hoạt động tư pháp”.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung Tội can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa ánvào Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

- Có ý kiến đềnghị cân nhắc việc bổ sung Tội không tôn trọng Tòa án (Điều 404) vì có thể xử lý về Tội gây rối trật tự công cộng hoặc Tội chống người thi hành công vụ.

10.9. Các tội xâm phạm hoạt động quân sự

 Có ý kiến tán thành việc bổ sung các tội danh mới tại Chương các tội xâm phạm hoạt động quân sự(Chương XXV), nhưng cần giải thích đầy đủ  khái niệm trong Chương này như: “mệnh lệnh”; “mệnh lệnh trái pháp luật”; “khu vực có chiến sự”...

11. Về tăng quy định hình phạt tiền, cải tạo không giam giữtrong các tội danh

- Một số ý kiến nhất trí với việc mở rộng quy định về hình phạt tiền. Tuy nhiên, các tội với mục đíchchiếmđoạt thì không nên áp dụng hình phạt tiền (lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trộm cắp…) mà cần áp dụng hình phạt tù.

- Một số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ việc tăng các hình phạt này; có ý kiến đề nghị quy định theo hướng xác định mức phạt tiền trên cơ sở mức lương cơ bản, không nên quy định khoản tiền phạt cụ thể như dự thảo.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ và giảm hình phạt tù đối với một số tội ít nghiêm trọng.

- Có ý kiến đề nghị, cấu thành cơ bản của Tội vi phạm quy định về bán đấu giá tài sản (khoản 1 Điều 222) chỉ nên quy định thu lợi bất chính 30 - 100 triệu đồng là phù hợp, không cần dấu hiệu gây thiệt hại về vật chất cho người khác.

- Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện nước ta, việc tăng các hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ thiếu tính răn đe, dễ tái phạm. Đối với tội phạm về chức vụ, tội xâm phạm hoạt động tư pháp nên hạn chế hình phạt cải tạo không giam giữ.

12. Về tương quan giữa mức phạt tiền trong BLHS với mức phạt tiền theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm vừa có thể bị xử lý hành chính, vừa có thể bị xử lý hình sự

-Có ý kiến đề nghị quy định hình phạt tiền trong BLHS phải cao hơn mức phạt trong Luật xử lý vi phạm hành chính; mức phạt tiền quy định đối với các tội phạm về môi trường là quá thấp, trong khi mức phạt hành chính lại quá cao là không phù hợp.

- Có ý kiến cho rằng, không nên quy định mức phạt tiền khởi điểm trong hình sự phải bằng mức phạt cao nhất của hình phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính, vì tính nghiêm khắc của việc xử lý hình sự thể hiện qua quá trình tố tụng hình sự và hậu quả pháp lý của người kết án là án tích.

13. Những vấn đề cụ thể khác

13.1. Về việc lấy ý kiến Nhân dân và lộ trình thông qua BLHS     

-  Nhiều ý kiến tán thành việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về một số vấn đề lớn của dự án BLHS; một số ý kiến đề nghị lấy ý kiến rộng rãi Nhân dân về tất cả nội dung, vì BLHS có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của mọi đối tượng; đề nghị UBTVQH sớm ban hành nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Bộ luật này, thời gian lấy ý kiến ít nhất là 3 tháng.

-Có ý kiếnđề nghị UBTVQH sớm tổ chức họp Hội nghị đại biểu chuyên trách thảo luận, cho ý kiến về từng vấn đề của dự án BLHS ngay sau kỳ họp.

- Có ý kiến đề nghị Quốc hội xem xét, thông qua dự án BLHS trong 03 kỳ họp, tạo điều kiện để tổ chức lấy ý kiến Nhân dân. 

13.2. Về các quy định phần chung

-  Có ý kiến đề nghị bỏ từ “mọi” ở khoản 3 Điều 3 để thống nhất với Điều 76, vì dự thảo Bộ luật giới hạn chỉ “pháp nhân kinh tế” phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Điều 4: có ý kiến đề nghị sửa đổi nhằm bảo đảm yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, đây là trách nhiệm của cả xã hội, của toàn bộ hệ thống chính trị; đề nghị sửa khoản 1 theo hướng bỏ các cụm từ “tư pháp”, “thanh tra”, chỉ quy định “cơ quan công an, kiểm sát, tòa án và cơ quan hữu quan khác...”.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều 5 hoặc Điều 6 nội dung: “Bộ luật hình sự cũng được áp dụng ngoài lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

- Điều 8:

+ Có ý kiến cho rằng, khái niệm tội phạm không thể hiện hết các yếu tố cấu thành của tội phạm, quy định chủ thể là pháp nhân sẽ phá vỡ kết cấu khái niệm này. Do vậy, đề nghị cho giữ khái niệm tội phạm như BLHS hiện hành;

+ Có ý kiến tán thành phương án 2 quy định về khái niệm tội phạm nhưng đề nghị bổ sung yếu tố “pháp nhân”; có ý kiến đề nghị chỉnh lý khái niệm tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện mà hành vi đó phạm một tội theo quy định của Bộ luật này”;

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung định nghĩa về cấu thành tội phạm vào phần chung của dự thảo BLHS (sửa đổi).

- Điều 9: có ý kiến cho rằng, quy định về phân loại tội phạm chưa rõ ràng; đề nghị giữ nguyên quy định về phân loại tội phạm theo BLHS hiện hành; có ý kiến đề nghị không phân loại theo tiêu chí: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

- Điều 14: có ý kiếnđề nghị giữ nguyên quy định về chuẩn bị phạm tội trong BLHS hiện hành.

- Điều 16: có ý kiếnđề nghị quy định cụ thể hơn khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm”.

- Điều 18: có ý kiếnđề nghị giữ quy định về che giấu tội phạm như BLHS hiện hành; có ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng chịu TNHS về hành vi che giấu tội phạm là con dâu, con rể, cháu dâu, cháu rể vì đây cũng là những người thân.

- Điều 19: có ý kiến cho rằng quy định về trách nhiệm của ông, bà, cha, mẹ… là chưa phù hợp.

- Điều 22: có ý kiếnđề nghị làm rõ khái niệm “quá mức cần thiết”; điểm c, khoản 2 quy định khái niệm “phòng vệ chính đáng” là “chống trả người đang thực hiện hành vi giết người, hiếp dâm” là quá cụ thể, khó phân biệt.

- Điều 23: có ý kiếnđề nghị quy định rõ trong tình thế cấp thiết có bắt buộc phải biết giá trị cần gây thiệt hại với giá trị cần ngăn ngừa để xác định trường hợp phải chịu TNHS, tránh tình trạng “làm phúc phải tội” sẽ không khuyến khích được mọi người tham gia cứu giúp trong tình thế cấp thiết.

- Điều 24: có ý kiếnđề nghị giải thích rõ “sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết” tại khoản 2 Điều 24; đề nghị quy định trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết trong khi bắt giữ người phạm tội là một tình tiết giảm nhẹ hoặc quy định thành 01 tội danh tương tự như Tội giết người do vượt qua giới hạn phòng vệ chính đáng.

 - Điều 26: có ý kiến cho rằng quy định về thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy là khó có tính khả thi vì khái niệm người chỉ huy và cấp trên quá rộng.

- Điều 28: có ý kiếntán thành việc không quy định thời hiệu truy cứu TNHS đối với các tội tham nhũng (tham ô, nhận hối lộ); có ý kiến đề nghị cần có sự phân hóa, theo đó chỉ những tội tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng mới  không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS.

- Điều 32: có ý kiếnđề nghị không bỏ hình phạt trục xuất là hình phạt chính; đề nghị bỏ hình phạt cảnh cáo, hình thức này chỉ nên quy định ở Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Điều 36: có ý kiếnđề nghị cân nhắc, làm rõ các quy định trong hình phạt cải tạo không giam giữ như: khấu trừ thu nhập mức 5-20%; lao động phục vụ cộng đồng gồm loại công việc gì; chủ thể giám sát. Đồng thời, không nên áp dụng hình thức lao động đối với người bị kết án là người khuyết tật hoặc thuộc diện chính sách.

- Điều 49: có ý kiếnđề nghị cân nhắc quy định tại khoản 3 về trường hợp bắt buộc chữa bệnh; đề nghị quy định rõ thời hạn bắt buộc chữa bệnh.

- Điều 51: có ý kiếncho rằng điểm b khoản 1 quy định “thành tích công tác” là một tình tiết giảm nhẹ TNHS là không hợp lý; đề nghị quy định phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi là căn cứ để hoãn thi hành án mà không nên là tình tiết giảm nhẹ TNHS và giảm nhẹ hìnhphạt; đề nghị quy định tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội từ 70 tuổi trở lên” (khoản 1 Điều 51) chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng; đề nghị bổ sung tình tiết “người phạm tội là người lao động chính” là tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51. 

- Điều 54: có ý kiếnđề nghị bỏ điểm a khoản 2; có ý kiến đề nghị đổi tên Điều 54 là “quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ” và quy định có 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 là phù hợp.

- Điều 64: có ý kiếncho rằng quy định về tha tù trước thời hạn nhưng khi được tha về bị theo dõi, giám sát, có thể bị bắt đi thi hành án lại khi vi phạm là không hợp lý.

- Điều 70: có ý kiếnđề nghị giữ như quy định hiện hành về xóa án tích vì thực tiễn thực hiện không có vướng mắc; không nên quy định đương nhiên xóa án tích vì phải lấy giấy xác nhận của cơ quan thi hành án hình sự; có ý kiến đề nghị cân nhắc việc giao trách nhiệm cụ thể cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (khoản 4) vì việc cấp phiếu lý lịch tư pháp được thực hiện theo Luật lý lịch tư pháp; quy định khoản 4 không phù hợp với khoản 3 Điều 73.

- Điều 103: có ý kiến cho rằng quy định tại khoản 2 về tổng hợp hình phạt là không phù hợp. Việc sửa đổi quy định về cách tổng hợp hình phạt ở khoản 2 Điều 103 theo hướng so sánh tội nặng, tội nhẹ, giữa tội thực hiện sau và tội thực hiện trước là không hợp lý vì có thể dẫn đến trường hợp người thực hiện hai tội nặng hơn một người khác, nhưng người thực hiện tội nặng hơn chỉ bị phạt tối đa 12 năm tù còn người thực hiện nhẹ hơn bị phạt tối đa lên đến 18 năm tù.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung hình phạt “tù tại gia” vào dự thảo BLHS, vì hình phạt này vừa có ý nghĩa răn đe vừa giúp tiết kiệm ngân sách.

13.3. Về các tội phạm cụ thể

- Điều 133: có ý kiếnđề nghị quy định có tính bao quát hơn về các hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của người khác. Ví dụ: nếu người phạm tội không dùng axit mà là hóa chất khác thì xử lý thế nào?

- Điều 139: có ý kiếncho rằng đối tượng bị xâm hại trong Tội hành hạ người khácchỉ gồm người lệ thuộc vào người phạm tội là không đủ, mà cả người không lệ thuộc.

- Điều 154: có ý kiếncho rằng cấu thành Tội làm nhục người kháckhông rõ ràng.

- Điều 158: có ý kiếnđềnghị bổ sung cụm từ “thư điện tử” và sửa lại cụm từ “các thông tin số hóa khác của người khác” thành “nghe trộm, ghi âm trộm cuộc điện thoại của người khác mà không được sự đồng ý của người đó”.

- Điều 161: có ý kiếnđề nghị làm rõ các tình tiết: “động cơ cá nhân khác”, “làm kinh tế gia đình lâm vào tình trạng khó khăn”.

- Điều 172: có ý kiếnđề nghị để giải quyết tình trạng trộm chó gây bức xúc trong dư luận thời gian qua, cần tách quy định riêng với tội danh phù hợp để xử lý.

- Điều 181: có ý kiếnđề nghị bỏ tình tiết làm vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát quy định tại điểm b khoản 1.

- Điều 194: có ý kiếnđề nghị tách thành 2 tội danh độc lập; quy định hình phạt nặng hơn đối với hành vi sản xuất hàng giả, vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Điều 195: có ý kiếnđề nghị sửa tội danh là “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm và phụ gia thực phẩm”.

- Điều 196: có ý kiếnđề nghị tách thành 02 tội danh độc lập và quy định hình phạt nặng hơn với hành vi sản xuất.

- Điều 197: có ý kiếntán thành quy định của dự thảo, đề nghị bổ sung thêm hình thức tịch thu máy móc, nhà xưởng, sản phẩm làm giả, cấm hành nghề và bổ sung hình phạt tiền đến 500 triệu đồng.

- Điều 205: có ý kiếncho rằng quy định về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là không khả thi, cần quy định cụ thể hơn và tăng hình phạt đối với tội danh này; quy định mức lãi cho vay cao gấp 5 lần lãi vay ngân hàng để xử lý hình sự là quá cao, đề nghị chỉ quy định mức lãi gấp 2 lần; có ý kiến đề nghị bỏ tội danh này vì không có căn cứ xử lý.

- Điều 210: có ý kiếnđề nghị sửa đổi điểm b khoản 1 là: “cấp tín dụng không có đảm bảo hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng không được cấp phép tín dụng theo quy định”; điểm e khoản 1 đề nghị sửa lại như sau: “hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật trong hoạt động ngân hàng”; đề nghị giao cho cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn chi tiết về cấp tín dụng không có bảo đảm tại Điều 210.

- Các điều 250, 251, 252: có ý kiếnđề nghị không tách các tội danh độc lập về  vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, vì điều này gây khó khăn cho hoạt động điều tra; Điều 244 chưa chặt chẽ, vì hiện nay trồng từ 500 cây thuốc phiện trở lên mới bị kết tội.

- Điều 268: có ý kiếnđề nghị cân nhắc việc sửa tên tội danh, ví dụ: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là không chính xác, vì tham gia giao thông đường bộ rộng hơn, có tai nạn không phải do tham gia giao thông.

- Chương XIX: có ý kiếncho rằng các tội phạm về môi trường quy định như dự thảo không có tính răn đe; đề nghị quy định mức hình phạt nặng hơn đối với các tội phạm về môi trường.

- Chương XXIII: có ý kiếnđề nghị quy định đối với các tội phạm về chức vụ: người có chức vụ cao hơn thì chịu trách nhiệm hình sự nặng; Điều 372: hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất tội phạm; Điều 377: pháp luật nhiều nước không truy tố đối với người đưa hối lộ, vì vậy, đề nghị xem xét lại việc xử lý đối với người phạm tội này, không nên sửa đổi hình phạt theo hướng tăng nặng.

- Chương XXIV: có ý kiếnđề nghị tăng mức hình phạt đối với Tội dùng nhục hình (Điều 386), Tội bức cung (Điều 387) và đề nghị tăng thời gian cấm đảm nhiệm chức vụ suốt đời hoặc ít nhất là 5 năm đối với 2 tội danh này; đề nghị quy định cụ thể cấu thành của “Tội coi thường Tòa án” (Điều 404).

- Chương XXV: có ý kiếnđề nghị các quy định trong Chương các tội xâm phạm hoạt động quân sự cần được quy định cụ thể (các điều từ 344-347, điều 405-408); Điều 405: đề nghị xác định hoạt động của dân quân là hoạt động quân sự để đưa vào khái niệm “hoạt động quân sự”; đề nghị tăng mức hình phạt đối với những tội xâm phạm hoạt động quân sự.

- Điều 432: có ý kiếnđề nghị không nên quy định “cố ý”, mọi trường hợp bỏ lại thương binh, tử sĩ phải coi là phạm tội.

 13.4.Về các tội danh có yếu tố định lượng

- Điều 172: có ý kiếncho rằng đối với tội trộm cắp tài sản, mức định lượng 02 triệu đồng mới xử lý hình sự là không hợp lý,nhất là đối với những đối tượng nghèo, vùng sâu, vùng xa. Trường hợp trộm cắp tài sản giá trị dưới 2 triệu nhưng là tài sản mưu sinh của người bị thiệt hại thì cần xử lý hình sự.

- Điều 227: có ý kiếncho rằng quy định chuyển 5 – 7ha đất sai mục đích sử dụng không hợp lý, cần xem lại có hạn chế quyền công dân không.

- Điều 231: có ý kiếncho rằng quy định xả lượng nước thải 12.000m3 đến 20.000m3 mới chịu TNHS là không phù hợp với các tỉnh có quy mô công nghiệp nhỏ, đề nghị giảm xuống bằng 50% so với mức trên.

- Điều 240: có ý kiếncho rằng quy định diện tích rừng bị phá như dự thảo là không phù hợp, sẽ dẫn đến nguy cơ mất đất, mất rừng.

- Điều 268: có ý kiếnđề nghị quy định rõ hơn về nồng độ cồn đối với hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông tại khoản 4.

- Điều 332: có ý kiếnđề nghị giữ quy định về định lượng để truy cứu TNHS hành vi đánh bạc như hiện hành.

- Có ý kiếnđề nghị cân nhắc quy định mức khởi điểm của thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kể cả những tội như: cướp tài sản, cướp giật tài sản.

- Có ý kiếnđề nghị quy định, giải thích cụ thể các điều khoản có yếu tố định lượng để bảo đảm thống nhất trong áp dụng, ví dụ: “khối lượng”, “trọng lượng”, “người khuyết tật”, “bệnh nguy hiểm”, “bệnh hiểm nghèo”; có ý kiếnđề nghị bổ sung cụm từ “mô, bộ phận cơ thể người” vào Tội giết người để bảo đảm phù hợp với luật chuyên ngành.

- Có ý kiếnđề nghị một số điểm vướng mắc, bất cập cần được xem xét sửa đổi từ định tính sang định lượng như: gây hậu quả nghiêm trọng đối với vi phạm các quy định về quản lý sử dụng đất đai; khai thác cát, gây sạt lở đất; nhập rác thải nguy hại cho môi trường.

- Có ý kiếnđề nghị, để khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn xử lý các tội phạm về ma túy, cần quy định rõ “hàm lượng”, “khối lượng” hay “trọng lượng” là căn cứ định tội danh và hình phạt, vì hiện nay chưa thể giám định “hàm lượng” ma túy.

- Có ý kiến cho rằng dự thảo vẫn còn những quy định chung chung, chưa thống nhất, cần hướng dẫn mới có thể thực hiện được; đề nghị cần quy định cụ thể ranh giới mức phạt của từng loại tội.

13.5. Về kết cấu các chương, điều và kỹ thuật lập pháp

- Có ý kiến cho rằng, việc xâm phạm an ninh quốc gia không chỉ về chính trị mà còn về kinh tế, hiện BLHS mới chú ý tới xâm phạm về chính trị. Vì vậy, đề nghị quy định tên Chương XIII là “Chương các tội xâm phạm chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia”.

- Có ý kiến đề nghị quy định một chương riêng về tội phạm khủng bố.

- Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể tình tiết tăng nặng hình phạt “phạm tội đối với phụ nữ mang thai” đối với các tội: hiếp dâm, lây truyền HIV, đe dọa giết người...; đề nghị tăng hình phạt ở khung cấu thành cơ bản đối với Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em, nếu phạm tội với tình tiết tái phạm nguy hiểm thì mức hình phạt cao nhất phải là tử hình.

- Có ý kiến đề nghị bỏ từ “lợi dụng” trong các tội danh, bởi rất khó chứng minh hành vi này, đồng thời trong nhiều tội, lợi dụng là yếu tố đương nhiên để chủ thể có thể phạm tội.

- Có ý kiến đề nghị không bỏ tình tiết “đã bị xử lý vi phạm hành chính” trong cấu thành một số tội phạm (ví dụ: Tội lừa dối khách hàng; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả...).

- Có ý kiến cho rằng khung hình phạt tù ở một số tội danh còn quá dài (từ 5 - 10 năm), dễ dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng, đề nghị rút ngắn; đề nghị không quy định tội ghép hoặc quy định ghép đối với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.

- Có ý kiến đề nghị bỏ quy định “các tình tiết khác” đối với quy định về án treo.

- Một số ý kiến đề nghị rà soát tất cả các hành vi cấm trong luật chuyên ngành để quy định thành tội danh trong BLHS; đề nghịrà soát từ ngữ trong dự thảo Bộ luật để bảo đảm thống nhất với quy định của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, Luật người khuyết tật, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế, Luật bình đẳng giới, Luật phòng, chống ma túy...

*

*      *

Trên đây là Báo cáo tổng hợp ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ và Hội trường về dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi). Đoàn Thư ký kỳ họp trân trọng báo cáo./.


VP Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh  (Cập nhật ngày 06-08-2015)    



Các tin liên quan:
  Dự thảo Bộ Luật hình sự (sửa đổi) xin ý kiến (05-08-2015)
  Kế hoạch của Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) (05-08-2015)
  Nghị quyết số 972 /NQ-UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 13 tháng 7 năm 2015 về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) (05-08-2015)
  Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 14 thánh 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ (04-08-2015)
     Tin đọc nhiều
     Hình ảnh hoạt động
     Video
Lịch công tác
Đại biểu nhân dân
Cổng thông tin  điện tử
Dự thảo online
Báo Bình Định
Đời Sống & Pháp luật
Công báo Chính phủ
Công báo Bình Định
     Tìm kiếm tin tức
Từ khóa:
Mục tin:
     Thông tin cần biết
Thời tiết
     Liên kết
     Thống kê người dùng
  Đang online:               35
  Số lượt truy cập: 655317
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 01 Trần Phú - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định
Tel:056.3824849 - Fax:056.3824448 - Email: binhdinh@qh.gov.vn
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT - Viễn thông Bình Định (ITA)