Tổng hợp nhanh kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ 5, QH XIII

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Chủ nhiệm VPQH về việc tập hợp kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri để phục vụ hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, Vụ Dân nguyện đã triển khai tập hợp theo lĩnh vực sau đây:

I- Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BộTài Chính

Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ Tài chính tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1- Về công tác quản lý giá các mặt hàng thiết yếu:

Hiện nay, nước ta đang thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Theo đó, giá cả của đại bộ phận hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường (trong đó có cả các mặt hàng vật tư nông nghiệp và nhiều mặt hàng thiết yếu khác) đều được hình thành theo cơ chế thị trường. Nhà nước tác động vào sự hình thành và vận động của giá cả thị trường thông qua các biện pháp kinh tế vĩ mô như các chính sách phát triển sản xuất, điều hoà cung-cầu; chính sách tài khoá, tiền tệ....; đồng thời, Nhà nước cũng thực hiện quản lý và bình ổn giá thị trường theo quy định của pháp luật thông qua việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; áp dụng các biện pháp đăng ký giá, kê khai giá đối với một số mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá (trong đó có mặt hàng sữa, gas, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); quy định về niêm yết giá hoặc điều tiết cung cầu thông qua chương trình bình ổn thị trường tại các địa phương đối với một số mặt hàng thiết yếu. Đối với các mặt hàng thuộc diện Nhà nước đang quản lý hoặc kiểm soát giá như xăng dầu, điện... giá cả được điều hành từng bước theo lộ trình cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

           Để bình ổn giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát nói chung, ngay từ đầu năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012, xác định mục tiêu ưu tiên của năm 2012 là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý…; Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, trong đó đề ra nhiều nhóm giải pháp về miễn thuế môn bài; giảm tiền thuê đất; miễn, giảm, gia hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN cho một số đối tượng; đồng thời chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt các biện pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá; tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả; giảm mặt bằng lãi suất... 

          Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2013 và Nghị quyết của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước 2013, ngay trong tháng 12, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2013 trong đó có các giải pháp giảm, gia hạn nộp thuế TNDN, thuế giá trị gia tăng; giảm tiền thuê đất cho một số đối tượng…Riêng đối với nhóm giải pháp điều hành giá, Bộ Tài chính đề xuất:

(1) Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật giá, kiên trì mục tiêu điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhất là đối với một số hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước còn định giá hoặc kiểm soát giá như điện, than cho sản xuất điện, nước sạch, dịch vụ y tế, giáo dục; Minh bạch trong điều chỉnh giá để tạo chủ động cho doanh nghiệp, đảm bảo kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với những ngành sản xuất gặp khó khăn, người nghèo, người có thu nhập thấp.

(2) Nghiên cứu duy trì, mở rộng Chương trình bình ổn giá ra các tháng sau Tết Nguyên Đán Quý Tỵ 2013; tập trung bình ổn giá từ gốc của sản xuất, mở rộng liên doanh, liên kết phát huy lợi thế so sánh giữa các tỉnh và lợi thế của địa phương; hỗ trợ lãi suất cho người chăn nuôi, hỗ trợ con giống, thức ăn, vận chuyển...; kết hợp hỗ trợ lãi suất với giảm thuế đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Chương trình; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để người dân biết, tham gia giám sát chương trình BOG;

(3) Theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên Đán Quý Tỵ 2013, chủ động dự báo và có các biện pháp điều hành giá phù hợp.

(4) Sửa đổi Nghị định 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo việc kinh doanh xăng dầu theo cơ chế giá thị trường.

(5) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật Nhà nước về giá gắn với kiểm tra chấp hành pháp luật về thuế; Kiểm soát chặt chẽ giá độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá, chống bán phá giá và chuyển giá nội bộ theo quy định của pháp luật. Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

(6) Kiểm soát chặt chẽ các phương án giá, chi từ nguồn ngân sách Nhà nước thanh toán hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất; hàng hóa dự trữ Nhà nước; hàng hóa, dịch vụ được trợ cước, trợ giá.

2- Về điều hành giá xăng dầu, giá điện theo hướng đảm bảo tính công khai minh bạch:

Xăng dầu là mặt hàng có tác động trực tiếp tới sản xuất và đời sống người dân. Tuy nhiên, sản lượng xăng dầu sản xuất trong nước chỉ đáp ứng 30% nhu cầu, 70% sản lượng xăng dầu phải nhập khẩu. Vì vậy, giá bán xăng dầu trong nước phụ thuộc trực tiếp vào diễn biến giá xăng dầu thế giới. Do vậy việc điều hành giá xăng dầu trong nước thực hiện theo cơ chế thị trường, bám sát tín hiệu giá xăng dầu thế giới và có sự điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ như Quỹ Bình ổn giá, thuế nhập khẩu...

Tình hình điều hành và quản lý của Nhà nước về giá xăng dầu như sau:

 Về nguyên tắc điều hành giá xăng dầu trong nước hiện nay:

Điều hành giá xăng dầu từ cuối năm 2009 đến nay đang được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP với nguyên tắc xuyên suốt là: “Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế giá thị trường, có sự quản lý của Nhà nước”. Nguyên tắc đó được cụ thể hoá bằng cơ chế tổng quát như sau:

- Giá xăng dầu thành phẩm trong nước phải bám sát giá thị trường thế giới; doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối được quyền quyết định giá, điều chỉnh tăng, giảm giá trong một biên độ nhất định theo quy định của pháp luật khi giá cơ sở có biến động (tăng hoặc giảm so với giá hiện hành) nhưng vẫn phải chịu sự giám sát, kiểm soát và điều tiết của Nhà nước.

- Nhà nước thực hiện vai trò giám sát, kiểm soát, điều tiết đối với giá xăng dầu thông qua các công cụ và biện pháp sau:

          + Quy định công thức tính giá cơ sở, căn cứ, quy trình tính giá, thời gian tối thiểu giữa hai lần điều chỉnh giá để các doanh nghiệp có căn cứ tính toán, thực hiện.

          + Kiểm soát phương án đăng ký giá của doanh nghiệp trước khi doanh nghiệp điều chỉnh giá.

          + Áp dụng các biện pháp bình ổn giá thông qua điều hành thuế, Quỹ Bình ổn giá (được thành lập theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP) nhằm bình ổn giá, không để giá tăng quá cao, có tác động bất lợi đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.

          Cơ chế điều hành giá như trên được các Bộ, ngành liên quan và các doanh nghiệp triển khai thực hiện thống nhất và nhất quán trong suốt thời gian qua.

  Về các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối trong nước và điều hành giá xăng dầu trong nước thời gian vừa qua:

a) Về các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối trong nước hiện nay:

Hiện nay có 13 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối tham gia kinh doanh xăng dầu trong nước và cạnh tranh trong tất cả các khâu. Liên quan đến việc dư luận cho rằng còn hiện tượng độc quyền trong kinh doanh thì căn cứ các quy định hiện hành để xem xét, cụ thể: Theo quy định của Luật Cạnh tranh: “doanh nghiệp có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”“doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”. Trong 13 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối hiện nay thì tính đến hết 10 tháng đầu năm 2012 Tập đoàn xăng dầu Việt Nam chiếm khoảng 50% thị phần[1], là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (không phải doanh nghiệp độc quyền).

Tuy có những doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh thị trường nhưng những doanh  nghiệp này không thể lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường bởi các quy định hiện hành về kinh doanh xăng dầu quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP không cho phép các doanh nghiệp áp đặt bất hợp lý (áp đặt điều kiện thương mại bất công bằng; bán xăng dầu dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh…) do Nhà nước vẫn kiểm soát việc tính toán mức giá thông qua việc kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp kinh doanh đầu mối thực hiện các quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị định số 84/2009/NĐ-CP; các doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký giá bán lẻ xăng dầu với cơ quan quản lý nhà nước khi điều chỉnh tăng hoặc giảm giá bán so với giá bán hiện hành.

b) Điều hành giá xăng dầu trong nước trong năm 2012

Trong 2 tháng đầu năm 2012,mặc dù giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng nhưng thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ với mục tiêu kiềm chế lạm phát, Nhà nước đã điều hành giữ ổn định giá xăng dầu thông qua việc tiếp tục cho sử dụng quỹ bình ổn giá và giảm thuế nhập khẩu xăng dầu (trong đó: thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng xăng giảm từ 4% xuống 0%, đối với dầu điêzen và dầu hỏa giảm từ 5% xuống 3%, madut vẫn ở mức 0%).

Trong tháng 3 và tháng 4/2012, do giá xăng dầu thế giới tiếp tục tăng cao, giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng 2 lần (ngày 7/3/2012 và ngày 20/4/2012), nhưng mức tăng có kiềm chế để giảm bớt tác động đến tình hình kinh tế xã hội trong nước do đã kết hợp với sử dụng công cụ thuế và quỹ bình ổn giá.

Từ cuối tháng 4/2012, giá xăng, dầu thế giới có biến động giảm, Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về điều hành kinh doanh xăng dầu trên cơ sở cácnguyên tắc đã công bố công khai với công luận trong suốt thời gian qua: đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu; Liên Bộ đã yêu cầu doanh nghiệp 05 lần liên tiếp giảm giá xăng dầu trong nước kết hợp với khôi phục một phần thuế suất thuế nhập khẩu.

Kể từ sau ngày giảm giá đợt 2/7/2012, giá xăng dầu thành phẩm thế giới biến động theo xu hướng tăng. Trên cơ sở diễn biến giá xăng dầu thế giới kết hợp với việc sử dụng Quỹ BOG; các doanh nghiệp đã 04 lần điều chỉnh tăng giá bán xăng dầu trong nước.

Cuối tháng 8/2012, giá xăng dầu thế giới tiếp tục biến động tăng. Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, giảm mức tăng giá xăng dầu ở trong nước, Liên Bộ Tài chính ‑ Công Thương đã cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối sử dụng Quỹ BOG, tiết kiệm chi phí; không tính lợi nhuận định mức của doanh nghiệp trong giá cơ sở; phần chênh lệch còn lại cho phép các doanh nghiệp điều chỉnh giá phù hợp.

Từ đầu tháng 9/2012 đến giữa tháng 10/2012, giá xăng dầu tiếp tục dao động ở mức cao; căn cứ tình hình kinh tế, xã hội trong nước; để giữ ổn định giá bán xăng, dầu trong nước ngày 11/9/2012, Liên Bộ Tài chính ‑ Công Thương cho phép các doanh nghiệp tăng mức sử dụng Quỹ BOG 200 đồng/lít,kg (từ 300 đồng/lít,kg lên 500 đồng/lít,kg) đồng thời giảm thuế các mặt hàng dầu 2% (dầu điêzen từ 10% xuống 8%; dầu hỏa, madut từ 12% xuống còn 10%).

Từ đầu tháng 10/2012 cho đến hết năm 2012, giá xăng dầu thế giới tiếp tục có biến động tăng giảm thất thường (có ngày tăng, có ngày giảm) và diễn biến phức tạp; căn cứ tính toán giá cơ sở theo các quy định hiện hành, Liên Bộ Tài chính ­‑ Công Thương đã 4 lần yêu cầu các doanh nghiệp tiếp tục tiết giảm chi phí, có những thời điểm không tính đủ lợi nhuận định mức trong giá cơ sở và giảm mức sử dụng Quỹ BOG với các mặt hàng: (lần 1 ngày 22/10/2012: giảm sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng madut từ 500 đồng/kg xuống còn 200 đồng/kg; lần 2 ngày 30/10/2012: giảm sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng xăng, điêzen từ 500 đồng/lít xuống còn 300 đồng/lít; ngừng sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng madut, lần 3: ngày 6/11/2012 ngừng sử dụng Quỹ BOG với mặt hàng xăng; lần 4: ngày 11/11/2012 ngừng sử dụng Quỹ BOG với điêzen, dầu hỏa, giảm giá bán xăng, dầu madut; lần 5: ngày 28/12/2012 giảm giá bán các loại dầu từ 300 - 500 đồng/lít,kg).

Việc điều hành giá xăng, dầu vừa qua được đánh giá:theo đúng các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CPvà các văn bản quy phạm pháp luật liên quan: điều hành kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; giá xăng dầu trong nước bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới đảm bảo chia sẻ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng; việc công bố thông tin đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch; đặc biệt trong thời gian vừa qua đã góp phần bình ổn chỉ số giá tiêu dùng (nhất là lạm phát kỳ vọng), việc điều hành thuế được bình ổn, đặc biệt Nhà nước không bù lỗ các mặt hàng xăng dầu, cụ thể:

Việc quản lý, điều hành giá đã bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch:

Vềcông khai: Liên Bộ và các doanh nghiệp đã thực hiện:

- Công khai về cơ chế, chính sách bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2009/NĐ-CP; các Thông tư, hướng dẫn của Liên Bộ Tài chính‑Công Thương.

- Công khai về chủ trương điều hành thông qua các cuộc họp báo, các thông cáo báo chí, các hội thảo, hội nghị, các cuộc đối thoại chính sách của Liên Bộ về cách tính giá, về mức giá cơ sở; về chủ trương điều hành thuế, Quỹ BOG… trong công thức giá cơ sở, việc lấy giá xăng dầu thế giới là giá Platt’s Singapore cũng được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.

- Công khai về kết quả thực hiện thông qua các công bố về giá, về niêm yết giá; các kết quả kiểm tra về kinh doanh, về giá, về trích lập và sử dụng Quỹ BOG…

Vềminh bạch: Thực hiện minh bạch trong cơ cấu các yếu tố hình thành giá cơ sở; minh bạch trong phương án tính giá, trong kiểm soát phương án tính giá; quy trình tính giá và thời gian tính giá, thời gian giữa các lần điều chỉnh giá…

Để thực hiện cơ chế giá thị trường, Ngân sách Nhà nước không bù giá, bù lỗ; việc điều hành giá đã bám sát các tín hiệu khách quan của giá thị trường thế giới và yêu cầu giữ ổn định kinh tế vĩ mô: có tăng, có giảm; phụ thuộc vào tăng, giảm của giá thị trường thế giới; khoảng cách giữa các lần điều chỉnh giá đã thực hiện đúng theo các quy định của Nghị định số 84/2009/NĐ-CP.

Qua 3 năm thực hiện Nghị định số 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu cũng cần phải có sự xem xét, tổng kết, đánh giá mặt ưu, mặt nhược điểm để có các biện pháp xử lý, khắc phục tồn tại. Ngay từ cuối năm 2011, Bộ Tài chính đã chủ động tổng kết, đánh giá và đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 84/2009/NĐ-CP. Trên cơ sở các báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Chính phủ đã giao cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp cùng các Bộ, ngành liên quan để sửa đổi, bổ sung Nghị định này. 

3- Về chính sách thuế đối với doanh nghiệp              

          Theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011, hệ thống thuế đã, đang và sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư. Theo kế hoạch, mức thuế suất thuế TNDN sẽ được nghiên cứu điều chỉnh về mức 20% để áp dụng từ năm 2020 trở đi.

          Thực hiện một bước trong chiến lược cải cách thuế, Bộ Tài chính đang nghiên cứu, trình Chính phủ để trình Quốc hội tại Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của thuế TNDN theo hướng: giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống còn 23%; đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) được áp dụng thuế suất 20% ngay kể từ ngày 01/7/2013. Việc điều chỉnh dần từng bước thuế suất thuế TNDN nêu trên sẽ vừa đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư so với các nước trong khu vực (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia: 25%; Philippin: 30%), vừa không gây tác động giảm thu đột ngột tạo sức ép về cân đối ngân sách của năm áp dụng, đồng thời không xáo trộn nhiều tới hệ thống chính sách ưu đãi thuế.

II- Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Tài Nguyên và Môi trường

Tại Công văn số 782/BTNMT-PC ngày 08 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XIII, trong đó tập trung vào các vấn đề chính như:

1- Về lĩnh vực đất đai

- Về giá đo đạc:Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành theo thẩm quyền Định mức kinh tế kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính; trong đó, quy định cụ thể về định mức lao động và vật tư, thiết bị theo từng loại tỷ lệ bản đồ địa chính, từng mức độ khó khăn khác nhau. Căn cứ Định mức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính, trích đo địa chính thửa đất tại địa phương theo từng loại tỷ lệ bản đồ cho phù hợp với điều kiện khó khăn thực tế và mức lương tối thiểu, giá vật tư, trang thiết bị ở địa phương. Do đó, đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính và trích đo địa chính ở các địa phương là có thể khác nhau.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiếp tục rà soát để sửa đổi Định mức kinh tế kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa chính đã ban hànhcho phù hợp với thực tế của các địa phương

-Về đề  nghị xem xét, điều chỉnh diện tích đất nông nghiệp đã giao theo Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ đối với người đã chết, người mới sinh, người chuyển đi, chuyển đến địa phương.

Luật Đất đai năm 2003 (khoản 1 Điều 67) đã quy định giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng với thời hạn 20 năm; khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Quy định này là kế thừa quy định của Luật Đất đai năm 1993 (Điều 20). Như vậy, chủ trương tiếp tục giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khi hết thời hạn và không điều chỉnh lại diện tích đất nông nghiệp đã giao theo Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 1993 đã được khẳng định nhất quán trong Luật Đất đai qua các thời kỳ.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại tiếp tục khẳng định: "Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất" đồng thời nêu rõ “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất”.

Để đảm bảo ổn định đời sống cho những người thiếu đất hoặc chưa được giao đất sản xuất, Nhà nước sẽ thực hiện các giải pháp như: thu hồi đất nông nghiệp đối với trường hợp tự nguyện trả lại đất do không có nhu cầu, vận động các hộ gia đình đã chuyển đổi nghề mà có đất nông nghiệp chuyển nhượng, cho thuê đất cho lao động nông nghiệp chưa có đất hoặc có nhu cầu sử dụng nhiều đất hơn; đồng thời sẽ tăng cường tạo quỹ đất nông nghiệp để giao, cho thuê cho các hộ gia đình, cá nhân thiếu đất hoặc chưa có đất để sản xuất nông nghiệp. Song song với các giải pháp trên cần thực hiện việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông nghiệp trong nông thôn, phát triển các ngành nghề dịch vụ trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

- Một số nội dung cử tri kiến nghị đang được Bộ nghiên cứu để tiếp thu vào dự thảo luật đất đai sửa đổi như:

 Về thời hạn giao đất:nội dung kiến nghị của cử tri đã được sửa đổi trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo hướng kéo dài thời hạn sử dụng đối với đất nông nghiệp là 50 năm thống nhất với mọi loại đất (trước đây là 20 năm đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm).

Về giá bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước cho người dân bị thu hồi đất: nhằm giải quyết những bất cập mà cử tri kiến nghị, vấn đề này đang được xem xét, thể hiện trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

Về đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch: Ý kiến của cử tri đã được nghiên cứuđể sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo hướng bổ sung chế tài xử lý đối với hành vi chậm điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đối với khu vực đã công bốlàphải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất nhưngsau ba năm vẫn không được thực hiện; quy định hàng năm, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua các dự án, công trình phải thu hồi đất...

- Về việc  rà soát lại đất đai của các dự án phát triển công nghiệp, khi quá thời hạn cho phép nhưng chưa đi vào hoạt động hoặc chuyển đổi mục đích không theo quy định của pháp luật cần thu hồi hoặc chuyển cho các dự án khác hiệu quả hơn.

Về vấn đề cử tri nêu, trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành đã chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp:

Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2008 về việc rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch và sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 trên địa bàn cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương liên quan kiểm tra, xử lý các trường hợp quy hoạch “treo”, trong đó có các khu, cụm công nghiệp. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý đối với các dự án, các khu, cụm công nghiệp chậm triển khai.

Năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra tại các tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Giang và Phú Thọ và đã có Báo cáo số 64/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 10 tháng 01 năm 2012 về thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất khu, cụm công nghiệp, khu đô thị và dân cư tập trung gửi Thủ tướng Chính phủ trong đó đề xuất các giải pháp xử lý đối với các khu, cụm công nghiệp chậm triển khai. Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường và kết quả rà soát các khu công nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2012 về việc chấn chỉnh công tác quản lý, trong đó kiểm tra, rà soát các khu, cụm công nghiệp sử dụng đất lãng phí, không có hiệu quả thì đề nghị không đưa vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của địa phương hoặc chuyển mục đích khác sử dụng có hiệu quả hơn.

Từ năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo đôn đốc các địa phương triển khai lập và quản lý tốt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020; tăng cường kiểm tra tình hình sử dụng đất của các dự án sau khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; kiên quyết xử lý đối với các trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng, để lãng phí đất đai. Đồng thời, trong quá trình xét duyệt quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã yêu cầu các địa phương không quy hoạch mới hoặc mở rộng các khu công nghiệp nếu không đảm bảo các yêu cầu phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt; tỷ lệ lấp đầy dưới 60%; không xét duyệt quy hoạch mới các cụm công nghiệp nếu không phù hợp với Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đã được phê duyệt và các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ môi trường; không cho phép mở rộng các cụm công nghiệp nếu tỷ lệ lấp đầy đạt dưới 60%.

Năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục có văn bản số 1342/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04 tháng 5 năm 2012 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu rà soát, báo cáo tình hình thực hiện các dự án khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Ngày 05 tháng 11 năm 2012, Bộ tiếp tục có văn bản số 4196/BTNMT-TCQLĐĐ đôn đốc các địa phương tiếp tục thực hiện việc rà soát, xử lý các dự án chậm đưa đất vào sử dụng và báo cáo kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Về lâu dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định cần thiết để trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc quản lý, sử dụng đất đối với các dự án có sử dụng đất như: quy định điều kiện giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội;quy định xử lý đối với các dự án chậm triển khai.

- Về đề nghị hướng dẫn cụ thể, chi tiết về áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

Tranh chấp đất đai, khiếu nại và tố cáo về đất đai là các nội dung khác nhau. Để tránh các xung đột, thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật hiện nay, việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai đang được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003, Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 quy định chi tiết một số điều Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính; việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Tố cáo.

Hiện nay, Thanh tra Chính phủ đang chủ trì soạn thảo Thông tư quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương.

2- Về lĩnh vực môi trường

- Công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm đối với những hành vi cố ý làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước và không khí.

Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát phòng,chống tội phạm về môi trường, các cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lývi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc, trong đó tập trung vào các Khu công nghiệp (KCN), Cụm công nghiệp (CCN), cụ thể:

- Năm 2010: Bộ đã thành lập 04 Đoàn kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường đột xuất và 11 Đoàn thanh tra theo kế hoạch tại 62 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với 475 cơ sở và khu công nghiệp.Kết quả thanh tra đã báo cáo cấp có thẩm quyền để hoàn thiện cơ chế chính sách còn bất cập, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở địa phương và lập biên bản vi phạm hành chính để chuyển cấp có thẩm quyền xử phạt khoảng 22 tỷ đồng, đồng thời buộc các tổ chức vi phạm khắc phục hậu quả theo quy định.

- Năm 2011: Bộ đã triển khai 5 Đoàn thanh tra tại 32 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và kiểm tra giám sát liên ngành đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đã phát hiện và xử lý nghiêm đối với cácdoanh nghiệp vi phạm với số tiền là 26,708 tỷ đồng, đồng thời buộc doanh nghiệp khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định.

- Năm 2012: Bộ đã triển khai 08 Đoàn thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với 466 cơ sở, KCN, CCN, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước đối với 10 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước. Các Đoàn thanh tra đã phát hiện nhiều cơ sở và KCN xả trực tiếp hàng ngàn m3 nước thải không qua xử lý ra môi trường với các thủ đoạn tinh vi, gây ô nhiễm nghiêm trọng như: KCN Dịch vụ Thủy sản Thọ Quang, KCN Liên Chiểu và Công ty Gốm sứ Cosani (Đà Nẵng); Công ty Hùng Vưng Vĩnh Long, Công ty TNHH Thuận An III (An Giang), Công ty nông sản thực phẩm Trà Vinh, Công ty cổ phần thủy sản Cửu Long (Trà Vinh), Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Nghệ An, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thuỷ sản Thanh Hoá,... Các Đoàn thanh tra đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với các cơ sở vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền lên đến gần 34 tỷ đồng.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; tập trung xử lý dứt điểm những điểm nóng về môi trường, công khai thông tin vi phạm theo quy định của pháp luật để tạo áp lực buộc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường tại địa phương.

- Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, trước mắt khẩn trương tập trung nghiên cứu xây dựng Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi); nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, tăng mức xử phạt, trong đó đối với cùng một hành vi vi phạm thì tổ chức bị xử phạt tiền mức gấp 2 lần đối với cá nhân.

- Hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án tăng cường năng lực hệ thống thanh tra về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương.

- Việc sửa đổi Nghị định xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường và sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2009/NĐ-CP cho phù hợp.

Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31tháng 12năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngđược ban hành đã góp phần làm chuyển biến tích cực công tác bảo vệ môi trườngtrên cả nước, đảm bảo việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm thống nhất, có hiệu quả, có tính răn đe, buộc các doanh nghiệp phải thay đổi hành vi theo hướng có lợi cho môi trường và đầu tư xử lý môi trường....Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn áp dụng Nghị định đã nảy sinh một số bất cập như có những quy định về hành vi vi phạm còn chung chung, mức phạt chưa hợp lý, mức phạt thấp đối với những hành vi có tính nguy hại cao cho môi trường và mức phạt cao đối với một số hành vi trên thực tế chỉ cần mức phạt thấp mang tính giáo dục răn đe. Vừa qua, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được Quốc hội thông qua, sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trong đó quy định nâng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường lên đến 2 tỷ đồng. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2009/NĐ-CP là hết sức cần thiết.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2009/NĐ-CP, dự kiến hoàn thành và trình Chính phủ trong Quý II năm 2013.

- Về đề nghị  đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý rác thải ở vùng nông thôn.

Một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn hiện nay chính là do lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng gia tăng, khối lượng lớn nhưng tỷ lệ thu gom chất thải rắn khu vực nông thôn hiện nay mới đạt khoảng 40%, phương pháp xử lý chất thải rắn nông thôn chủ yếu là chôn lấp; việc xử lý chất thải rắn nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn nông thôn, Chính phủ đã ban hành các văn bản trong đó phân công, phân cấp cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương với chủ trương huy động và tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn, đồng thời đưa ra chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với việc xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn, cụ thể như sau:

- Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011 - 2020 (theo Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25 tháng 05 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó ưu tiên lựa chọn xây dựng các dự án đầu tư xử lý chất thải rắn tại các địa phương là trung tâm vùng; khu du lịch; các địa phương có công trình xử lý chất thải rắn có tính chất vùng theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; các địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên bị ngập lụt; các địa phương đang sử dụng bãi chôn lấp không hợp vệ sinh và chưa có các dự án đầu tư hoặc bãi chôn lấp đã hết hạn sử dụng và không mở rộng quy mô được.

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định nhu cầu và danh mục các dự án đầu tư xây dựng các khu liên hợp, cơ sở xử lý chất thải rắn trên địa bàn gửi Bộ Xây dựng tổng hợp để triển khai thực hiện. Bộ Xây dựng tổng hợp nhu cầu và lập danh sách các dự án đầu tư xây dựng các khu liên hợp, cơ sở xử lý chất thải rắn của các địa phương vay tín dụng đầu tư của nhà nước gửi Ngân hàng Phát triển Việt Nam để triển khai theo quy định, đồng thời tìm kiếm các nguồn vốn khác để thực hiện chương trình.

- Theo định hướng chỉ đạo của Chính phủ, mọi hình thức đầu tư cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn, trong đó có đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn đều được khuyến khích (theo quy định tại Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập, phê duyệt và công bố công khai quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp địa phương. Việc đầu tư các cơ sở xử lý chất thải rắn tại địa phương thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải phù hợp với quy hoạch quản lý chất thải rắn đã phê duyệt và tuân theo quy định hiện hành.

Trong thời gian tới, với vai trò quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tham mưu cho Chính phủ triển khai có hiệu quả Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011 - 2020.

- Về rà soát các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn cả nướcđể đánh giá tính hiệu quả

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang chỉ đạo tiến hành tổng rà soát các dự án khai thác khoáng sản cả nước, đánh giá hiện trạng, những tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý khoáng sản, kiên quyết chấm dứt, thu hồi đối với dự án khai thác không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về khoáng sản hoặc khai thác gây ô nhiễm môi trường. Trong năm 2012, đã thực hiện thanh tra tại 60 doanh nghiệp của 05 tỉnh, kiểm tra 151 doanh nghiệp tại 34 tỉnh. Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần chấn chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản. Theo kế hoạch và thực hiện quy định của pháp luật về khoáng sản, năm 2013 và các năm tới, sau khi kiện toàn cơ quan chuyên về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản (Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản thuộc Tổng cục Địa chất và Khoáng sản), Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo hoạt động khai thác khoáng sản thực hiện đúng theo quy định, việc khai thác khoáng sản gắn với chế biến, không ảnh hưởng xấu đến môi trường, không xuất khẩu khoáng sản thô. 

- Về việc Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản

Thực hiện Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12, năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành 02 nghị định gồm: Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản; Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ tài nguyên (gồm tài nguyên nước và khoáng sản) để trình Chính phủ trong Quý II năm 2013. Trong dự thảo Nghị định đã có quy định các hình thức xử phạt bổ sung, tịch thu tang vật và tăng mức xử phạt và quyền hạn xử phạt cho các cơ quan thanh tra và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.

Theo thẩm quyền được giao trong Luật Khoáng sản và các Nghị định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan xây dựng các Thông tư, Thông tư liên tịch quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Trong đó 03 Thông tư đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành gồm: Thông tư số 16/2012/TT-BTNMT ngày 29 tháng 11 năm 2012 quy định về đề án thăm dò khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản và mẫu báo cáo kết quả hoạt động khoáng sản, mẫu văn bản trong hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản, hồ sơ phê duyệt trữ lượng khoáng sản, hồ sơ đóng cửa mỏ khoáng sản; Thông tư số 17/2012/TT-BTNMT ngày 29 tháng 11 năm 2012 quy định về điều kiện của tổ chức hành nghề thăm dò khoáng sản; Thông tư số 02/2013/TT-BTNMT ngày 01 tháng 3 năm 2013 quy định việc lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác khoáng sản; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản. Các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Thông tư quy định về thu thập, giao nộp, lưu trữ, bảo quản và cung cấp thông tin về khoáng sản; Thông tư quy định chi tiết thủ tục thẩm định, phê duyệt đề án, báo cáo kết quả trong điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000; Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia sử dụng mẫu chuẩn trong phân tích mẫu địa chất, khoáng sản đã được hoàn thiện để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành; Thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính quy định phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; Thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản,... đang được khẩn trương hoàn chỉnh để ban hành nhằm triển khai thực hiện Luật Khoáng sản, Nghị định số 15/2012/NĐ-CP, Nghị định số 22/2012/NĐ-CP.

III- Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Nội vụ

Kiến nghị của cử tri tập trung vào các vấn đề liên quan đến chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó chủ yếu là:

1. Về bổ sung chính sách đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Tiếp thu kiến nghị của cử tri về việc giải quyết những khó khăn của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, ngày 08/4/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở cấp xã phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, trong đó đã bổ sung:

- Đối với Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí, ngoài lương hưu hiện hưởng, hàng tháng được hưởng 100% mức lương bậc 1 của chức danh được đảm nhiệm theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định này và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Sau thời gian đủ 5 năm (60 tháng) xếp bậc 1, nếu hoàn thành nhiệm vụ được giao và không bị kỷ luật trong suốt thời gian này thì được hưởng 100% mức lương bậc 2 của chức danh đảm nhiệm.

- Những người đã có thời gian làm cán bộ cấp xã trước ngày 01/01/1998, nếu trong thời gian công tác này mà đảm nhiệm chức danh có quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn và được điều động, tuyển dụng vào quân đội nhân dân, công an nhân dân hoặc vào làm trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thì thời gian đảm nhiệm chức danh trước ngày 01/01/1998 nêu chưa được tính hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

- Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp và chế độ bảo hiểm y tế. Ngân sách Trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả 3% bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cụ thể: cấp xã loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 20,3 tháng lương tối thiểu chung; cấp xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,6 tháng lương tối thiểu chung; cấp xã loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 17,6 tháng lương tối thiểu chung.

- Áp dụng việc thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Ngân sách Trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả 3% bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố như sau:

   + Đối với thôn thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn thuộc xã biên giới, hải đảo; thôn thuộc xã có khó khăn về ngân sách theo quy định của Bộ Tài chính và thôn thuộc xã loại 1, xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 5,0 tháng lương tối thiểu chung.

   + Đối với các thôn còn lại và các tổ dân phố được khoán quỹ phụ cấp bằng 3,0 tháng lương tối thiểu chung.

Việc quy định cụ thể các mức hưởng sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định trên cơ sở quy định của các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

2- Về chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ công chức

Chế độ tiền lương hiện hành đối với cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã còn nhiều bất cập, chưa động viên được cán bộ, công chức, người lao động gắn bó, tận tâm với công việc. Việc mở rộng đối tượng và số lượng các loại phụ cấp đã tạo ra bất hợp lý trong tương quan chung.

Thực hiện chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và ý kiến của Bộ Chính trị, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã trình Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020” và đã được Hội nghị Trung ương thông qua tại Kết luận số 23-KL/TW ngày 29 tháng 5 năm 2012.

Căn cứ Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 (Khóa XI), theo phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đang phối hợp với các Bộ, cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo nghiên cứu và thực hiện cải cách chính sách tiền lương Nhà nước xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công đến năm 2020 để trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XI. Nội dung của Đề án này sẽ nghiên cứu toàn diện các nội dung của chế độ tiền lương hiện hành, bao gồm: Mức lương tối thiểu; quan hệ tiền lương tối thiểu- trung bình- tối đa; hệ thống thang, bảng, ngạch, bậc lương; các chế độ phụ cấp và cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức.

Sau khi có Nghị quyết hoặc Kết luận của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) của Đảng, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trình các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản để triển khai thực hiện Đề án cho phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội của đất nước.

3- Về xếp ngạch, bậc lương đối với cán bộ cấp xã có trình độ lý luận chính trị

Theo quy định hiện hành về tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ cấp xã, phường, thị trấn thì mỗi chức danh của cán bộ, công chức cấp xã đều có tiêu chuẩn cụ thể về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số cán bộ cấp xã chưa đạt tiêu chuẩn, nhất là tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, dẫn đến khó khăn cho việc thực hiện chính sách đối với cán bộ cấp xã theo quy định hiện hành. Để tạo điều kiện cho việc sắp xếp, bố trí cán bộ và giải quyết chế độ tiền lương cho cán bộ cấp xã, tiếp thu ý kiến của cử tri, Ban tổ chức Trung ương đã trao đổi, thống nhất với các Bộ Nội vụ, Tài chính, Lao động – Thương binh và Xã hội và đã ban hành văn bản số 3692-CV/BTCTW ngày 31/10/2012, trong đó đã hướng dẫn  đối với các văn bằng cử nhân chính trị, trung cấp chính trị được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp có giá trị, đủ điều kiện để xếp ngạch, bậc cán bộ, công chức gồm:

- Bằng cao cấp lý luận chính trị do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cấp.

- Bằng trung cấp lý luận chính trị, trung cấp lý luận chính trị - hành chính do các trường chính trị các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương cấp.

Căn cứ các quy định nêu trên, bằng đại học chính trị là bằng đại học chuyên ngành. Các văn bằng: trung cấp chính trị, trung cấp chính trị - hành chính và văn bằng được công nhận tương đương (Theo quyết định số 256-QĐ/TW ngày 16/9/2009 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa X về việc xác định trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên đã học lý luận chính trị ở các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trường chính trị của Đảng hoặc đã học đại học chính trị chuyên ngành và sau đại học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Ban tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan thống nhất vận dụng các văn bằng trên để xếp ngạch, bậc lương như đối với bằng trung cấp chuyên nghiệp. Việc thực hiện theo hướng dẫn tại văn bản này đối với đội ngũ cán bộ cấp xã đang công tác tính đến ngày 31/10/2012.

4- Về việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, trong đó quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng; tăng cường phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công

Về việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, trong đó quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan

Thực hiện chủ trương về đổi mới tổ chức hoạt động của Chính phủ theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trên cơ sở đánh giá cơ cấu tổ chức Chính phủ khoá XII, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ xây dựng Đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ khoá XIII để trình Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 03/2012/QH13 ngày 02/8/2012. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1992/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 phê duyệt Kế hoạch sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Kết quả thực hiện trong thời gian qua như sau:

- Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Trên cơ sở đó, đến nay đã có 08 trên tổng số 19/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ được Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan mình; 11 Bộ, cơ quan ngang Bộ đang tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan mình, trình Chính phủ xem xét, ban hành.

- Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong quản lý nhà  nước đối với ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương, đồng thời có tính đến các yếu tố đặc thù về kinh tế, xã hội ở địa phương để có mô hình tổ chức phù hợp với yêu cầu quản lý giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn và định hướng phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên các ngành, lĩnh vực.

Từ các kết quả hoàn thiện các văn bản pháp luật nêu trên, về cơ bản, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được quy định rõ và phù hợp hơn, đảm bảo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện; những vấn đề giáp ranh, giao thoa giữa các Bộ, ngành đều xác định rõ một cơ quan chịu trách nhiệm chính và các cơ quan phối hợp; khắc phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực ở Trung ương và giữa các cơ quan chuyên môn về ngành, lĩnh vực ở cấp tỉnh, cấp huyện.

 Về việc đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng; tăng cường phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công

Bộ Nội vụ thống nhất với ý kiến, kiến nghị của cử tri thành phố Hồ Chí Minh về sự cần thiết của việc đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và chính quyền địa phương, nhất là phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công. Về vấn đề này, để xác định các nội dung phân cấp trong từng lĩnh vực cụ thể, trong năm 2012, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã xây dựng Đề án “Phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương giai đoạn 2011-2015” kèm theo dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2012-2015 và đã trình Chính phủ tại Tờ trình số 2036/TTr-BNV ngày 30/5/2012, bảo đảm phù hợp với chủ trương, định hướng về thực hiện phân cấp theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Theo nội dung của Đề án và dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, về cơ bản, việc phân cấp về quản lý nhà nước giữa Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thời gian tới sẽ được thực hiện hợp lý hơn, trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan. Một mặt, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa phương, mặt khác bảo đảm sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ; phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ, ngành và của chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tăng cường trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra của Bộ, ngành Trung ương đối với việc thực hiện phân cấp; chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai phân cấp liên quan đến việc điều chỉnh thẩm quyền quản lý của từng cấp từ Trung ương đến địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại văn bản số 7840/VPCP-TCCV ngày 04/10/2012 như sau:

- Chưa ban hành Nghị quyết của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2012-2015.

- Bộ Nội vụ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trình Chính phủ xem xét, ban hành sau khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung.

Vì vậy, trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ có trách nhiệm chủ động nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện Đề án, dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để trình Chính phủ vào thời gian thích hợp, bảo đảm phù hợp với lộ trình và nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.

IV- Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Công thương

1- Về tăng cường quản lý việc cấp phép, có biện pháp ngăn chặn và xử lý nghiêm việc người Trung Quốc sang Việt Nam mua phá giá hàng hóa (nông sản, thủy sản…) lũng đoạn thị trường

Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế,  thương nhân nước ngoài vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội giao thương ngày càng nhiều. Hoạt động của thương nhân nước ngoài (cá nhân, tổ chức người nước ngoài) tại Việt Nam và đối tượng hàng hoá được mua ngày càng đa dạng như: vải thiều tại tỉnh Bắc Giang; chè  tại tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái; khoai lang tại tỉnh Vĩnh Long; dừa khô nguyên liệu tại tỉnh Bến Tre; gà, vịt, trứng gia cầm tại các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ…; hồ tiêu tại tỉnh Gia Lai; thủy sản tại Bạc Liêu, Cà Mau và cá cơm tại một số tỉnh miền Trung... Phần lớn việc mua nông sản của các thương nhân nước ngoài được thực hiện theo hợp đồng ngoại thương giữa thương nhân nước ngoài và thương nhân Việt Nam. Thương nhân Việt Nam đứng ra thu mua, tổ chức đóng gói, thuê phương tiện vận chuyển đến biên giới và làm thủ tục xuất khẩu chính ngạch. Các thương nhân nước ngoài có cử người sang giám sát về quy cách, chất lượng hàng hoá, song không trực tiếp thực hiện các thủ tục, chứng từ xuất khẩu. Đây là hoạt động thương mại quốc tế thông thường, phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Để điều chỉnh hoạt động của thương nhân nước ngoài nói chung và thương nhân Trung Quốc nói riêng, Chính phủ đã có các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện Luật Thương mại năm 2005 gồm có Nghị định số 72/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 7 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 90/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2007 quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam; Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại (trong đó có Điều 56 về xử phạt đối với hành vi hoạt động hoặc tổ chức hoạt động thương mại trái phép của tổ chức, cá nhân nước ngoài)…

Tuynhiên, từtháng 5 năm 2011 đến nay, như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin, có một số thương lái người nước ngoài, lợi dụng con đường du lịch, thâm nhập vào Việt Nam làm ăn chụp giật, nâng giá mua gom nông sản, hải sản, thực phẩm theo quy cách riêng để tranh mua với thương nhân Việt Nam; sau khi thâu tóm nguồn hàng tiến hành ép giá, nợ tiền hàng, bỏ trốn... Đối tượng lừa gạt ở đây là các tổ chức, cá nhân (chủ yếu là cá nhân người Trung Quốc) lợi dụng chính sách mở cửa thông thoáng của Việt Nam để vào nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như thăm người thân, du lịch... và tiến hành các hoạt động thu mua bán hàng hoá trái phép, không phải là thương nhân Trung Quốc hoạt động hợp pháp và theo đúng pháp luật của Việt Nam. Những hành vi này vi phạm cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, ổn định kinh tế và trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, bên cạnh các hoạt động thương mại bình thường, còn có một bộ phận tổ chức, cá nhân người nước ngoài chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là:

- Từ nhận thức đến việc tổ chức quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động thương mại của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại từng địa bàn cụ thể còn nhiều hạn chế;

- Vì lợi ích riêng, một bộ phận thương nhân Việt Nam đã tiếp tay cho các hành vi này thông qua việc không thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật quy định;

- Do nhận thức chưa đầy đủ, vì lợi ích trước mắt, nhiều nông dân (không phải là thương nhân) đã bán hàng hóa trực tiếp cho tổ chức, cá nhân người nước ngoài mà không biết là đang vô tình tiếp tay cho những đối tượng đó hoạt động thương mại trái với quy định của pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam.

Để giải quyết những vấn đề nêu trên có hiệu quả hơn trong thời gian tới, Bộ Công Thương đã và sẽ tiếp tục triển khai một số nội dung công việc cụ thể như sau:

- Ngay sau khi có phản ánh của thông tin đại chúng, Bộ Công Thương đã thành lập các Đoàn công tác kiểm tra, đánh giá tình hình, chỉ đạo trực tiếp các địa phương xử lý như kiểm tra thương nhân nước ngoài lập kho hàng, cơ sở phân phối tại thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 2012); thu mua cua ở Cà Mau (tháng 5 năm 2012);

- Ngày 25 tháng 5 năm 2012, Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 4456/BCT-TTTN gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm của thương nhân nước ngoài mua bán hàng hóa tại Việt Nam;

- Ngày 19 tháng 7 năm 2012, Bộ Công Thương cũng đã có Thông báo số 166/TB-BCT gửi các đơn vị trong Bộ yêu cầu khẩn trương triển khai thực hiện Kết luận của Bộ trưởng Bộ Công Thương tại buổi làm việc với các Vụ, Cục về việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thương nhân nước ngoài thu mua nông sản tại Việt Nam.

- Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ (Công an, Quốc phòng, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội) đã tổ chức 3 Hội nghị khu vực vào ngày 27 tháng 8 năm 2012 tại thành phố Cần Thơ, ngày 07 tháng 9 năm 2012 tại thành phố Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2012 tại tỉnh Khánh Hoà với nội dung nhằm “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật có liên quan đến quy định về hoạt động mua bán hàng hoá của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam”. Đến tham dự 3 Hội nghị có đại diện của 5 Bộ: Công an, Quốc phòng, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội và khoảng 500 đại biểu đại diện cho lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, lãnh đạo Ban Chỉ đạo của 3 vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, lãnh đạo Sở Công Thương của 63 tỉnh, thành phố; lãnh đạo của 54 Phòng Công Thương/Phòng Kinh tế các quận huyện và đại diện các Sở có liên quan (Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động-Thương binh và Xã hội, Công an, Tài chính)...

         Thông qua 3 Hội nghị, Bộ Công Thương đã yêu cầu các cơ quan quản lý tại các tỉnh, thành phố tiếp tục chỉ đạo các địa phương phối hợp với các ngành có liên quan từ thành phố, thị xã, huyện đến các phường, xã trong tỉnh tiếp tục tuyên truyền sâu rộng, kịp thời các văn bản quy định về hoạt động của thương nhân nước ngoài tới các doanh nghiệp, Hợp tác xã, hộ kinh doanh, hộ nuôi trồng... tại địa phương mình quản lý nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cũng như trong công tác xử lý với các hình thức mua bán có biểu hiện bất thường các loại nông, lâm, thuỷ hải sản của thương nhân nước ngoài, đồng thời trấn an dư luận, không gây hoang mang cho người dân, đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương;

         - Ngày 27 tháng 9 năm 2012 Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 28/TT-BCT Quy định chi tiết việc đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

         - Ngày 22 tháng 10 năm 2012, Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 10014/BCT-TTTN yêu cầu Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đánh giá công tác quản lý thương nhân nước ngoài thu mua nông sản trong thời gian từ sau khi Bộ Công Thương có chỉ đạo tại Công văn số 4456/BCT-TTTN ngày 25 tháng 5 năm 2012 cho đến nay tại các địa phương.

         Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành có liên quan như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chỉ đạo các cơ quan chức năng thuộc Bộ (Cục, Vụ, Văn phòng, đơn vị thuộc Bộ, Sở Công Thương các địa phương…) để tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của thương nhân, cá nhân, tổ chức nước ngoài, trong đó có thương nhân, tổ chức, cá nhân Trung Quốc hoạt động thương mại tại Việt Nam; thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo, các quy định có liên quan và giám sát việc thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra tình trạng như thời gian qua.

2- Về vấn đề quản lý, kinh doanh diện để đảm bảo công khai, minh bạch

Tính công khai, minh bạch trong giá điện đã được quy định cụ thể tại khoản 15 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện lực mới được Quốc hội thông qua, cụ thể: “Giá bán lẻ điện do đơn vị bán lẻ điện xây dựng căn cứ khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật này. Việc điều chỉnh giá bán lẻ điện phải được thực hiện công khai, minh bạch về sự biến đổi của các yếu tố cấu thành liên quan đến việc điều chỉnh giá. Nhà nước sử dụng các biện pháp để bình ổn giá bán điện phù hợp với quy định của pháp luật về giá”.

Về công tác điều hành giá bán điện: thực hiện quy định tại Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg ngày 15 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường, trong năm 2011 và 2012, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan tổ chức kiểm tra và công bố công khai giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam các năm 2010 và 2011. Hiện nay, Bộ Công Thương cũng đang phối hợp với Bộ Tài chính thẩm tra kế hoạch giá thành sản xuất kinh doanh điện các năm 2013-2015 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam để dự kiến lộ trình điều chỉnh giá điện theo sát thực tế.

3- Thông tin về  sự cố đập thủy điện Sông Tranh 2

Ngay sau khi kết thúc xử lý thấm và có kết luận của Tư vấn AF-Colenco (Tư vấn của Thụy Sĩ được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng thuê đánh giá độc lập mức độ an toàn đập Sông Tranh 2), Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ khẳng định đập Thủy điện Sông Tranh 2 xử lý thấm đạt yêu cầu và đảm bảo các tiêu chí an toàn về thiết kế, chất lượng công trình, khả năng chống động đất… Theo đó lưu lượng thấm đã đưa về nhỏ hơn thiết kế cho phép; đập thủy điện Sông Tranh 2 đã được thiết kế đúng với tiêu chuẩn áp dụng cho dự án; kết quả thẩm tra cho thấy với tất cả các tổ hợp tải trọng, đập làm việc an toàn, ổn định. Ngay cả trong trường hợp cực đoan hơn là động đất có gia tốc nền a= 220cm/s2 (tương đương cấp VIII theo thangMSK64) lớn hơn động đất cực đại sử dụng trong thiết kế a= 150 cm/s2 cùng vớiđiều kiện đẩy nổi bất lợi nhất (giả định tất các các hố khoan tiêu nước nền đập đều bị tắc và nền đập bị nứt hoàn toàn)đập vẫn đảm bảo an toàn, ổn định. Sau đó, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 327/TB-VPCP ngày 22 tháng 9 năm 2012 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về kết quả khắc phục việc thấm nước và kiểm tra an toàn đập thủy điện Sông Tranh 2, ngày 28 tháng 9 năm 2012, tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam, Bộ Xây dựng đã chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam tổ chức họp báo, công bố công khai, rộng rãi kết quả đánh giá an toàn đập thủy điện Sông Tranh 2 của Tư vấn AF-Colenco với cử tri tỉnh Quảng Nam, có một số phương tiện thông tin đại chúng như Báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh và các Báo Điện tử VTC, Đất Việt, Vnexpress, Dân trí… tham dự.

Về xử lý trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan: Mặc dù đã được Tư vấn AF-Colenco đánh giá đập thủy điện Sông Tranh 2 bảo đảm an toàn, ổn định nhưng do khu vực huyện Bắc Trà My đang xảy ra động đất kích thích do tích nước hồ chứa thủy điện Sông Tranh 2 và diễn biến động đất còn phức tạp nên Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chưa cho hồ chứa Sông Tranh 2 tích nước trở lại và giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục theo dõi tại hiện trường đập thủy điện Sông Tranh 2 trong mùa lũ 2012 để đánh giá tình trạng thấm và an toàn đập. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo Hội đồng Nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn nước ngoài có kinh nghiệm về động đất cùng với Viện Vật lý địa cầu đánh giá lại toàn bộ hiện trạng về kiến tạo địa chất và động đất tại khu vực Thủy điện Sông Tranh 2 để làm cơ sở quyết định cho tích nước hồ chứa Sông Tranh 2 sau này. Vì vậy, việc xác định và xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan sẽ được xem xét thực hiện sau khi kết thúc các công việc này.

V- Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng

Về việc tiếp tục thực hiện và tăng mức hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg, Quyết định 67/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ gia đình nghèo có khó khăn về nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg, Quyết định 67/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian vừa qua đã thực hiện được trên 510.000 hộ. Tuy nhiên, theo báo cáo sơ bộ của các địa phương trong cả nước thì hiện nay vẫn còn trên 500.000 hộ theo tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 có khó khăn về nhà ở cần được hỗ trợ để đảm bảo cho họ có cuộc sống an toàn, ổn định. Do vậy, việc cử tri các địa phương kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho tiếp tục thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở là cần thiết.

Để tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ nhà ở cho các họ nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương   nghiên cứu, xây dựng đề án và cơ chế, chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo tiêu chuẩn mới giai đoạn 2011 – 2015. Hiện nay, Đề án và dự thảo cơ chế chính sách hỗ trợ nhà ở, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, theo đó mức hỗ trợ có đề xuất tăng lên để phù hợp với giá cả vaatjlieeuj xây dựng, đảm bảo yêu cầu mức hỗ trợ của nhà nước cùng với các nguồn huy động khác, các hộ nghèo có thể xây dựng được căn nhà có diện tích tối thiểu 24 m2, nhà ở đảm bảo “3 cứng“: nền cứng, khung – tường cứng, mái cứng, tuổi thọ căn nhà từ 10 năm trở lên như quy định tại Quyết định 167/2008/QĐ-TTg, đủ điều kiện tối thiểu để người dân có nơi cư tú an toàn trong điều kiện bình thường

VI. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin – Truyền thông

Nội dung kiến nghị của cử tri tập trung vào các nội dung chính như: Hoạt động báo chí, tuyên truyền; quản lý nội dung thông tin trên internet; quản lý trò chơi trực tuyến; quản lý hoạt động quảng cáo và các chương trình phát sóng trên truyền hình, bản quyền chương trình truyền hình; hoạt động xuất bản; hoạt động viễn thông; công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Sau đây là một số nội dung cụ thể:

1. Về quản lý trò chơi trực tuyến

Hiện nay, Bộ TTTT đã hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet. Theo đó, ngoài các quy định được kế thừa từNghị định 97/2008/NĐ-CP, dự thảo Nghị định quy định những nội dung mới về trò chơi điện tử trên mạng; phân định rõ đại lý Internet và điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng; quy định cụ thể điều kiện hoạt động của đại lý Internet và điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tửcông cộng. Sau khi Nghị định được Chính phủ ban hành, Bộ TTTT sẽ xây dựng các Thông tư hướng dẫn thi hành, trong đó có thông tư hướng dẫn về trò chơi điện tử trên mạng; thông tư hướng dẫn về trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Đồng thời, Bộ cũng đang xây dựng các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản.

2. Về quản lý hoạt động quảng cáo

Hiện nay, thời lượng phát sóng quảng cáo của một kênh chương trình trên tổng thời lượng phát sóng của kênh chương trình đó của các đài phát thanh - truyền hình nói chung, trên Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng hầu như chưa đạt mức quy định. Tuy nhiên, mật độ quảng cáo trên từng đơn vị chương trình cụ thể thường tập trung vào thời điểm có nhiều người xem nên dễ gây cảm giác là các đài phát thanh, truyền hình quảng cáo quá thời lượng, quá tần suất cho phép. Bộ TTTT đang xây dựng chiến lược phát triển một số kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị thông tin tuyên truyền thiết yếu do Nhà nước đặt hàng, trong đó sẽ không cấm hoặc hạn chế việc phát sóng các chương trình quảng cáo. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện trên thực tế cần có thời gian và cần được sự đồng thuận cao của các cơ quan báo chí cũng như dư luận xã hội. Bộ TTTT sẽ tăng cường phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để xây dựng văn bản hướng dẫn Luật Quảng cáo phù hợp với thực tế, hạn chế các sai phạm trong hoạt động quảng cáo hiện nay.

3. Về quản lý các chương trình phát sóng trên truyền

Bộ đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về quản lý hoạt động truyền hình trả tiền (Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24/3/2011), trong đó có các quy định cụ thể quản lý nội dung các chương trình truyền hình nước ngoài nói chung, phim truyền hình nước ngoài nói riêng một cách tập trung, nhằm tăng cường công tác quản lý một cách toàn diện, chặt chẽ và hiệu quả hơn. Bộ TTTT đã ban hành Thông tư số 19/TT-BTTTT ngày 28/5/2009 quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, nhằm khuyến khích việc tận dụng các nguồn lực xã hội để sản xuất các chương trình truyền hình trong nước, từng bước thay thế các chương trình truyền hình nước ngoài, trong đó có các chương trình phim truyện; Thông tư số 15/2009/TT-BTTTT ngày 04/5/2009 quy định về điều kiện, thủ tục phát sóng quảng bá trực tiếp các kênh chương trình truyền hình địa phương trên vệ tinh. Hiện nay, Bộ TTTT đang triển khai xây dựng dự thảo Quy hoạch báo chí và phát thanh truyền hình trong cả nước và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình. Nếu các đề án được phê duyệt sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng nội dung chương trình truyền hình nói chung và nâng cao chất lượng phim Việt Nam nói riêng.

VII. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tập trung vào những nội dung sau:

1. Về chất lượng giáo dục, chương trình giáo dục, chính sách giáo dục

 Để thực hiện việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có vấn đề điều chỉnh chương trình giáo dục tiểu học, đưa một số môn học mới vào chương trình học…Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng Đề án “Đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau 2015”.Hiện nay, Dự thảo Đề án đã hoàn thành và đang trong quá trình hoàn thiện.

Về vấn đề cải cách, đổi mới nền giáo dục Việt Nam: Thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 khóa XI về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tập trung hoàn thiện Đề án, trình Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 7/2013. Những vấn đề đã rõ, Bộ đã chủ động và tích cực triển khai.

2. Về chính sách đối với giáo viên

- Về việc sửa đổi Nghị định 54/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng trợ cấp thâm niên

Thực hiện Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26/11/2011 Quốc hội khóa XIII về chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về trợ cấp nhà giáo nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu. Dự thảo Quyết định đã được các tập thể và cá nhân góp ý, hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện để gửi xin Bộ Tư pháp thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

- Về việc điều chỉnh chế độ, chính sách cho giáo viên mầm non nói chung và giáo viên mầm non ngoài biên chế và có chính sách cho các cô nuôi dạy trẻ được vào biên chế                   

Ngày 11/3/2013, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNVhướng dẫn thực hiện chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non quy định tại Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Nội vụ đang soạn thảo Thông tư liên tịch Quy định về vị trí việc làm, số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập (Thay thế Thông tư liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 27/11/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập).

- Về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập khi có quyết định điều động, biệt phái, luân chuyển sang công tác tại các Phòng Giáo dục và đào tạo, Sở Giáo dục và đào tạo     

Thực hiện Kết luận số 23-KL/TW ngày 29/5/2012 của Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cùng các Bộ, ngành chức năng nghiên cứu đề xuất với Chính phủ ban hành các chính sách để các cán bộ, công chức đang công tác tại các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung và các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục nói riêng được hưởng thêm các chế độ đãi ngộ tương ứng với thời gian đã trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.

3. Vềcơ sở vật chất đối với vùng sâu, vùng xa

- Về việc tiếp tục triển khai Đề án kiên cố hóa trường học, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2012-2015, quan tâm  đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục mầm non các thôn bản vùng sâu, vùng xa    

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đề xuất trình Chính phủ tiếp tục thực hiện Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học giai đoạn 2013 – 2015; Triển khai Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non từ nguồn ODA vay ưu đãi và đối ứng để góp phần phát triển cơ sở giáo dục mầm non các thôn bản vùng sâu, vùng xa.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành khảo sát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cho phù hợp hơn với thực tiễn vùng, miền. Dự kiến Quy chế sửa đổi, bổ sung được ban hành trong năm 2013.

VIII. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã trả lời các kiến nghị của cử tri,trong đó nổi lên một số vấn đề sau:

1. Về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, lao động - tiền lương

- Về đề nghị  tăng mức lương hưu và chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng về hưu trước năm 1990

Theo quy định tại Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội: “Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế", như vậyviệc điều chỉnh lương hưu phụ thuộc vào mức lương hưu hiện hưởng và dựa trên mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế từng thời kỳ. Từ năm 2008 đến nay, Chính phủ đã thực hiện 6 lần điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, theo đó lương hưu của người nghỉ hưu đã được điều chỉnh tăng thêm 134% so với mức lương hưu của tháng 12/2007 góp phần cải thiện đời sống của người nghỉ hưu.

Hiện nay, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đang được giao xây dựng Đề án Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội giai đoạn đến 2020 trong đó có nội dung về việc tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội, điều chỉnh mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội (Đề án trên nằm trong Đề án Cải cách chính sách tiền lương, BHXH và trợ cấp ưu đãi người có công đến 2020).

- Về đề nghị có thể xem xét khi tăng lương cho các đối tượng hưu trí nên có một mức tăng chung bằng một số tiền cụ thể để tạo sự công bằng

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì“mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội”,mức lương hưu hàng tháng của người lao động được tính trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm xã hội và mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội. Như vậy, mức lương hưu của người nghỉ hưu cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo các mức tiền lương, tiền công của người lao động khi còn làm việc. Hay nói cách khác mức lương hưu sẽ phản ánh quá trình công tác của người lao động khi còn làm việc. Việc thực hiện điều chỉnh tăng lên đồng loạt một mức trên cơ sở số tiền tuyệt đối là không phù hợp vì sẽ cào bằng các đối tượng, xóa bỏ sự ghi nhận quá trình công tác, cống hiến của người lao động và không phản ánh đúng nguyên tắc đóng, hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội.

2. Về chính sách ưu đãi đối với người có công

- Về rà soát hồ sơ để giải quyết chính sách cho các đối tượng nhiễm chất độc da cam và  ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện chính sách đối với người có công sau ngày ban hành Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH ngày 07/4/2009 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Thực hiện Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Tờ trình số 77/TTr-LĐTBXH ngày 29/11/2012).

Sau khi Nghị định, Thông tư hướng dẫn được ban hành, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ chỉ đạo các địa phương xem xét, xác nhận và giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học đơn giản, chặt chẽ và đúng đối tượng.

- Về điều chỉnh mức trợ cấp đối với người có công phù hợp với mức sống của xã hội nên căn cứ vào hệ số trượt giá được công bố hàng năm của Chính phủ và có hệ số ưu đãi cho từng khu vực

Chế độ trợ cấp ưu đãi người có công được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Trợ cấp ưu đãi người có công được tính theo mức chuẩn. Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công căn cứ mức chi tiêu bình quân toàn xã hội và thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Từ tháng 01/2008 đến tháng 5/2012, Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công, từ 470.000 đồng/tháng (năm 2007) lên mức hiện nay là 1.110.000 đồng/tháng (năm 2012) cao hơn mức lương tối thiểu chung (1.050.000 đồng/tháng).

Năm 2012, trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã cố gắng nâng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công lên cao hơn mức lương tối thiểu chung.

Việc quy định hệ số ưu đãi cho từng khu vực là không hợp lý bởi chế độ, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng phải căn cứ vào công lao cống hiến, hy sinh cụ thể của từng đối tượng người có công với cách mạng.

IX. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn:

Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1. Về việc xây dựng nông thôn mới:

Vấn đề này đang được đông đảo cử tri quan tâm, có ý kiến kiến nghị, cụ thể như: cử tri nghị tiếp tục đẩy nhanh việc thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mớitheo hướng tăng cường đầu tư vốn, giải ngân nhanh cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, không huy động quá sứcdân làm dân vất vả thêm donhiều nơi nông dân còn gặp khókhăn…

- Để tăng nguồn lực hỗ trợ cho các địa phương xây dựng nông thôn mới, ngay từ đầu năm 2012 Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện, cụ thể như sau:

+ Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng cơ chế lồng ghép các Chương trình MTQG trên cùng một địa bàn; đề xuất các giải pháp để nâng tổng mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trực tiếp cho Chương trình xây dựng NTM; phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn, gợi ý các địa phương về cân đối các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương để lồng ghép thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tăng cường vận động thu hút thêm nguồn vốn ODA cho Chương trình, trong đó lưu ý vận động nguồn hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới.

+ Giao Bộ Tài chính khẩn trương tìm nguồn cân đối từ ngân sách Trung ương để hỗ trợ cho các địa phương thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM; hướng dẫn sử dụng kinh phí được hỗ trợ theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 về quản lý và sử dụng đất trồng lúa theo hướng ưu tiên bố trí cho các nội dung gắn với xây dựng nông thôn mới.

+Các địa phương: Từ năm 2012, các cấp ngân sách địa phương (tỉnh, huyện) phải ưu tiên cân đối chi ngân sách hàng năm cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới để đảm bảo ổn định trong kế hoạch hàng năm (trước mắt là giai đoạn 2013-2015) và không phụ thuộc vào nguồn vượt thu.

- Việc huy động sức dân trong xây dựng nông thôn mới là cần thiết để phục vụ lợi ích của chính người dân và cộng đồng. Việc làm này đã phát huy hiệu quả trong thời gian qua, được người dân tham gia tích cực. Tuy nhiên, trong điều kiện đời sống của người dân còn khó khăn, thời gian thực hiện chương trình còn dài, khối lượng công việc lớn vì vậy cần tránh tư tưởng nóng vội dẫn đến huy động quá sức dân. Để hạn chế tình trạng trên, Thủ tướng Chính phủ đã quy định cụ thể trong Điều 1 Quyết định số  695 /QĐ-TTg ngày  08/6/2012 về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020: “ Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua”.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống nước sạch nông thôn, các điểm thu gom và xử lý rác, rác thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt đã được Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể trong Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình, trong đó ưu tiên các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình 30a được hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước. Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần để thực hiện.

- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng Quy trình đánh giá, công nhận “Xã đạt chuẩn Nông thôn mới”. Dự kiến ban hành đầu quý II năm 2013. Việc công nhận “Tổ, ấp nông thôn mới” sẽ do Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới của tỉnh quy định.

- Về tăng mức hỗ trợ xây dựng đê bao sản xuất 3 vụ và hỗ trợ lãi suất đối với vùng sản xuất vụ 3: Nội dung này sẽ được xem xét, giải quyết khi triển khai thực hiện Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thủy lợi Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2012 – 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện khí hậu, nước biển dâng và Quyết định số 842/QĐ-BNN-TT ngày 16/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Đề án phát triển ngành trồng trọt đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

- Về hồ sơ thủ tục thực hiện và thanh toán các nội dung công việc trong xây dựng nông thôn mới; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: Đây là nội dung được Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương Chương trình MTQG xây dựng NTM đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư , Bộ Tài chính thực hiện ngay từ đầu năm 2012. Hiện nay, hai Bộ đang hoàn chỉnh văn bản trình Thủ tướng Chính phủ.

2. Về tiêu chí xây dựng nông thôn mới:

Nhiều ý kiến cử tri cho rằng Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (gồm 19 tiêu chí), nhưng có một số tiêu chí không phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi địa phương, như các tiêu chí về giao thông nông thôn, lao động, việc làm, thu nhập, chợ nông thôn…

Tiếp thu ý kiến của cử tri, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung 10 tiêu chí về nông thôn mới cho phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện đặc thù của từng địa phương, trong đó có:

- 05 tiêu chí sẽ được sửa đổi tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế)

- 05 tiêu chí sẽ được sửa đổi tại các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành có liên quan (tiêu chí số 02 về giao thông, tiêu chí số 3 về thủy lợi, tiên chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa, tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất và tiêu chí 17 về môi trường).

3. Về nguồn vốn kích cầu của Chính phủ cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp:

Cử tri đề nghị có giải pháp điều chỉnh, đưa nguồn vốn kích cầu Nhà nước đầu tư trực tiếp vào hoạt động sản xuất nông nghiệp cho nông dân, từ nguồn vốn kích cầu đầu tư để cải tạo đồng ruộng, nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dự trữ lúa gạo khi lúa rớt giá để đến khi lúa có giá nông dân sẽ bán được giá, bảo đảm lãi trên 30% như chỉ đạo của Thủ tướng. Đồng thời có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư công nghệ sau thu hoạch để giảm tổn thất và giữ được chất lượng các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, đáp ứng được nhu cầu thị trường trong và  ngoài nước.

Về vấn đề này, hiện nay Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư công nghệ sau thu hoạch để giảm tổn thất và giữ được chất lượng các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, đáp ứng được nhu cầu thị trường trong và ngoài nước như:

Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010; Thông tư số 62/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/10/2010 Quy định danh mục các loại máy móc, thiết bị được hưởng chính sách theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011.

 Quyết định 3242/QĐ-BNN-CB ngày 02/12/2010 về quy hoạch hệ thống kho chứa lúa của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các dự án xây kho được vay vốn bằng lãi suất tín dụng đầu tư phát triển từ nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính (Thông tư số 104/2012/TT-BTC ngày 25/6/2012) lãi suất cho vay tín dụng đầu tư bằng đồng Việt Nam là 12%/năm và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư đối với doanh nghiệp vay vốn bằng đồng Việt Nam là 2,4%/năm. Thủ tục vay vốn thực hiện theo Thông tư số 22/2012/TT-NHNN ngày 22 tháng 06 năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 Một số chính sách hỗ trợ khác được quy định tại các Nghị định: Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

          Ngoài ra trong năm 2012, khi giá lúa gạo giảm, Chính phủ  đã quyết định thực hiệnmua tạm trữ 1 triệu tấn quy gạo trong vụ Đông Xuân và 500 nghìn tấn quy gạo trong vụ Hè Thu.Sau mỗi đợt tổ chức mua tạm trữ thóc gạo đã làm cho giá thóc gạo trên thị trường ổn định trở lại và có chiều hướng tăng lên. Người nông dân có thóc gạo đem bán lúc này có thu nhập khá, có lợi nhuận đạt trên 30% so với giá thành sản xuất. Nhưng trong quá trình thực hiện, phương thức mua tạm trữ này còn một số hạn chế nên Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan và Hiệp hội Lương thực Việt Nam nghiên cứu xây dựng quy chế và phương thức mua tạm trữ lúa, gạo theo hướng phân bổ chỉ tiêu mua tạm trữ lúa, gạo qua Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân trồng lúa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng dự thảo về Quy chế tạm trữ lúa gạo hỗ trợ trực tiếp cho nông dân trồng lúa và trình Thủ tướng Chính phủ. Sau đó, ngày 28/12/2012, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có ý kiến chỉ đạo giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục rà soát hoàn thiện dự thảo để quy chế tạm trữ đi vào thực tiễn và dễ dàng thực hiện, đảm bảo hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân và thúc đẩy sản xuất lúa gạo phát triển.

4. Về vật tư nông nghiệp:

Trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tích cực xây dựng để trình Chính phủ ban hành các Nghị định quy định về hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực  giống cây trồng; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi…và đẩy nhanh việc xây dựng ban hành các thông tư, quy chuẩn kỹ thuật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đang phối hợp với các Bộ ngành liên quan và địa phương triển khai công tác quản lý chất lượng các loại vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật…), cụ thể:

- Đôn đốc, hỗ trợ các địa phương kiểm tra, đánh giá các cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản,phân loại theo các mức độ A/B/C, giám sát và áp dụng biện pháp xử lý theo quy định của Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/3/2011 quy định việc kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản và Chỉ thị số 1159/CT-BNN-QLCL ngày 27/4/2011 hướng dẫn triển khai kiểm tra, đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm các cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản. Công khai kết quả kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh.Tập trung nguồn lực (có hạn) của các cơ quan quản lý nhà nước để giám sát, hỗ trợ các cơ sở loại C (chưa đạt), khắc phục các sai lỗi, yếu kém để trở thành cơ sở loại B (đạt) và A (tốt).

          - Triển khaimạnh công tác tuyên truyền, phổ biếnnâng cao nhận thức của người sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp. Dùng thị trường và dư luận xã hội tác động trở lại quá trình sản xuất nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm.

          Với những cố gắng nỗ lực nói trên, các cơ quan quản lý chất lượng, vật tư nông nghiệp thuộc Bộ và các địa phương đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tình trạng bán hàng giả, hàng kém chất lượng mà việc ngăn chặn còn gặp rất nhiều khó khăn, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, chính quyền địa phương và của người dân.

Để ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và bền vững về chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang tích cực triển khai một số hoạt động sau:

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, kiện toàn phân công phân cấp trong thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm ở Trung ương và địa phương;

-Tiếp tục tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức người dân trong sử dụng, sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp;

-Tăng cường kiểm tra, giám sát, truy xuấtnguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật đối với sản phẩm không đảm bảo chất lượngcũng như với các cơ sở sản xuất, kinh doanh liên quan.

- Phối hợp với các Bộ ngành liên quan thực hiện thanh kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật…có chất lượng kém, kể cả hàng giả, hàng gian theo quy định của Pháp luật.

5. Về lĩnh vực thủy sản:

Thời gian vừa qua ngành Thủy sản đã được Chính phủ quan tâm, chú trọng đầu tư, hỗ trợ; đã có nhiều chính sách hỗ trợ được ban hành như: 1) Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân; 2) Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 về một số chính sách khuyến khích hỗ trợ ngư dân khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa, trong đó có hỗ trợ kinh phí tiền dầu, kinh phí mua bảo hiểm, trang bị máy thông tin liên lạc cho các tàu cá và xây dựng trạm quan sát tại các địa phương; 3) Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản; và Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010, Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản. Trong đó có hỗ trợ lãi suất vay cho việc đầu tư các trang biết bị nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, đóng mới tàu thu mua chế biến hải sản ... bên cạnh đó là các quyết định về việc phê duyệt và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu, cảng và các khu neo đậu tránh trú bão phục vụ cho ngành thủy sản. Các chính sách, dự án đã được ban hành, triển khai đã mang lại những hiệu quả tích cực cho Ngành Thủy sản trong thời gian vừa qua, tạo điều kiện để ngư dân ổn định cuộc sống bám biển khai thác và kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Phát huy những kết quả đạt được, trong năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tiếp tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tổ chức lại khai thác hải sản và Đề án Dự báo ngư trường khai thác hải sản, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức lại sản xuất, đặc biệt là việc tổ chức sản xuất theo mô hình tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển (mô hình tổ, đội); đóng mới các tàu cá có công suất lớn khai thác xa bờ, dài ngày trên biển; tiếp tục nâng cấp, xây dựng mới các khu dịch vụ hậu cần nghề cá, tăng cường công tác bảo quản sau thu hoạch, giảm tổn thất trong khai thác, từng bước nâng cao giá trị của sản phẩm; xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão để đáp ứng được so với số lượng tàu, xây dựng hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, đảm bảo công tác phòng chống lụt bão hiệu quả; bên cạnh đó là tổ chức dự báo ngư trường khai thác, dự báo giá bán sản phẩm để nâng cao hiệu quả của hoạt động khai thác. Năm 2012, Bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ các chính sách về hỗ trợ đóng mới, thay máy mới tàu cá và hỗ trợ đóng mới tàu cá vỏ thép có trang bị hiện đại tại các tỉnh miền Trung.

6. Về vấn đề trồng trọt, chăn nuôi:

Thực hiện Luật An toàn thực phẩm và Nghị định 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật an toàn thực phẩm, trong thời gian qua, Bộ NN&PTNT đã tích cực triển khai nhiều hoạt động, cụ thể như sau:

 - Thành lập Ban chỉ đạo an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản do Bộ trưởng trực tiếp làm trưởng ban. Hàng tháng Bộ trưởng Bộ NN&PTNT chủ trì họp Ban chỉ đạo với các đơn vị liên quan đến công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực chất lượng vật tư nông nghiệp và ATTP nông lâm thủy sản, xử lý kịp thời các sự cố mất ATTP.

- Phân công, phân cấp cho các đơn vị thuộc Bộ theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về chất lượng và ATTP nông lâm thủy sản được giao (Quyết định 3408/QĐ-BNN-QLCL, Quyết định 1984/QĐ-BNN-QLCL);

- Ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thực thi Luật ATTP và Nghị định 38/2012/NĐ-CP.

- Tổ chức đào tạo, tập huấn, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTP đến các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân.

- Tổ chức, hướng dẫn các địa phương công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về kết quả phân loại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm theo quy định của Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT, áp dụng chế độ kiểm tra chặt hơn với các cơ sở chưa đáp ứng điều kiện đảm bảo ATTP (chờ thời gian khắc phục và đến tái kiểm tra, nếu kết quả tái kiểm tra không đạt đề nghị cơ quan chức năng thu hồi giấy phép kinh doanh).

          - Triển khai giám sát, truy xuấtnguồn gốc và xử lý theo quy định của Thông tư số 03/2011/TT-BNNPTNT quy định về truy xuất nguồn gốc và thu hồi sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thủy sản; Thông tư số 74/2011/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2011 Quy định về truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý thực phẩm nông lâm sản không đảm bảo an toàn.

          - Ban hành Chỉ thị số 3450/CT-BNN-QLCL ngày  21/12/2012 về việc tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản phục vụ tiêu dùng dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Quý tỵ 2013.

  - Chỉ đạo Thanh tra Bộ và các đơn vị thuộc Bộ và các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra về ATTP, chất lượng vật tư nông nghiệp; việc chấp hành pháp luật và thực thi công vụ của cán bộ, công chức ở địa phương và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

  - Cung cấp thông tin cho cơ quan truyền thông để nhân dân được biết về việc sử dụng chất tạo nạc beta agonist, tình hình sử dụng chất Trifuralin trong cá, thông tin gạo giả, táo nhiễm dư lượng chất cấm do sử dụng túi bọc quả, gà nhập lậu chứa tồn dư kháng sinh cao…Phối hợp với Hội Nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xây dựng kế hoạch hoạt động tập trung vào việc tuyên truyền, giáo dục, vận động các hộ dân, các cơ sở SXKD thực phẩm ký cam kết thực hiện “Ba không”: không sản xuất rau không an toàn; không bán phụ gia thực phẩm không có trong danh mục cho phép sử dụng; không giết mổ giasúc, gia cầm không an toàn.

  - Thẩm tra hiệu quả các biện pháp phòng chống lạm dụng hóa chất, phân bón, thuốc BVTV, thuốc thú y trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và phát hiện kịp thời các vi phạm thông qua việc triển khai các chương trình giám sát quốc gia đối với các sản phẩm nông lâm thủy sản.

Trong thời gian tới Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung nguồn lực quản lý tốt chất lượng vật tư nông nghiệp, ATTPnông lâm thủy sảnđể đáp ứng yêu cầu, mong đợi của người tiêu dùng.

7. Về lĩnh vực lâm nghiệp:

Thời gian vừa qua, tình hình xâm hại tài nguyên rừngxảy ra tại nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có một số vụ phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật tại các khu rừng đầu nguồn gây bức xúc trong dư luận xã hội. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh kiểm tra, kiên quyết xử lý các tập thể, cá nhân có sai phạm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

- Về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản:

Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tích cực chỉ đạo xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012, thay thế Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ. Nội dung dự thảo Nghị định theo hướng quy định đầy đủ, rõ ràng hơn các hành vi vi phạm về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đồng thời tăng mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm phổ biến, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, hạn chế tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái pháp luật.

- Về công tác kiện toàn, nâng cao năng lực cho lực lượng Kiểm lâm.

Trong thời gian qua, tại một số địa phương xảy ra tình trạng cán bộ Kiểm lâm lợi dụng quyền hạn trong thi hành công vụ, gây phiền hà cho doanh nghiệp, cá nhân, thậm chí có trường hợp tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản đề nghị các địa phương kiên quyết xử lý các tập thể, cá nhân có sai phạm và đã ban hành Chỉ thị số 3714/CT-BNN-TCLN ngày 15/12/2011về việc tăng cường chấn chỉnh hoạt động của lực lượng kiểm lâm, đồng thời chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp và các cơ quan có liên quan xây dựng đề án “Đổi mới, kiện toàn và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động Kiểm lâm giai đoạn 2012-2020”, trình Chính phủ xem xét quyết định, nhằm tạo điều kiện về hành lang pháp lý cho lực lượng Kiểm lâm hoàn thành tốt nhiệm vụ.

X. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4,  Quốc hội khóa XIII của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1. Về hoàn thiện Đề án tổng thể  tái cơ cấu nền kinh tế

Chính phủ sau khi tiếp thu các ý kiến góp ý của đại biểu quốc hội, tham vấn rộng rãi trong giới nghiên cứu, chuyên gia và nhà khoa học đã hoàn thiện và chuẩn bị ban hành quyết định “Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quảvà năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020”.

2. Về tăng trưởng hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội, điều hành giá xăng, giá điện, an toàn thực phẩm:

Chính phủ ngay trong Nghị Quyết 11/ NQ-CP ngày 24/02/2011 cũng đã nhấn mạnh yêu cầu đảm bảm an sinh xã hội trong quá trình tái cơ cấu yêu cầu cần phải có những khoản chi phí để hỗ trợ an sinh xã hội và giảm nhẹ những thiệt hại đối với doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi.

Ngày 03/01/2012 Chính phủ đã ra Nghị quyết 01/NQ-CP về "Những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012". Ngày 10/5/2012 Chính phủ lại ra tiếp Nghị Quyết 13/NQ-CP để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và thị trường với nhiều giải pháp cho doanh nghiệp như giãn thời gian nộp thuế VAT, giảm tiền thuê đất, tái cơ cấu nợ, và các giải pháp giúp doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn của Ngân hàng… Những giải pháp này đã phần nào tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, kìm hãm đà suy giảm của sản xuất công nghiệp và cũng đã giúp khu vực sản xuất từng bước phục hồi dần qua từng quý.

Dựa trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội chúng ta từng bước thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo lộ trình đã nêu trong đề án sẽ được Chính phủ phê duyệt sắp tới. Các biện pháp cụ thể trước mắt cũng đã được nêu trong Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu. Các giải pháp trong các Nghị quyết này gồm cả những giải pháp cấp bách trước mắt và những giải pháp lâu dài, căn cơ để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước, tái cơ cấu các ngân hàng thương mại, thị trường tài chính Việt Nam.

Những điểm nghẽn chính của nền kinh tế như nợ xấu, hàng tồn kho, tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, v.v.. đều được đề cập và có các giải pháp đồng bộ. Cụ thể trong Nghị quyết 01/NQ-CP, Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải pháp để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, trong đó giải pháp chính sách tài khóa được thể hiện theo hướng chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính, ngân sách Nhà nước, tăng cường giám sát việc sử dụng ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó các giải pháp nhằm ổn định thị trường, kiểm soát giá cả cũng được đề cập một cách cụ thể.

Kiên trì thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP, thận trọng và kiên quyết thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo đúng lộ trình đã thông qua chúng ta sẽ từng bước dành lại được niềm tin của thị trường và xây dựng được nền tảng vững chắc cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.

Tư tưởng chủ đạo trong tái cơ cấu kinh tế là điều hành kinh tế theo tín hiệu thị trường và khắc phục các thất bại của thị trường.

Ví dụ: Thông báo số 75/TB-VPCP ngày 19-2-2013, Phó Thủ tướng chính phủ yêu cầu Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các cơ quan, đơn vị liên quan đánh giá toàn diện việc thi hành Nghị định 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu để xây dựng nghị định sửa đổi, bổ sung.

Trên cơ sở đó, xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 84/2009/NĐ-CP nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập vừa qua và đảm bảo các yêu cầu: Hoạt động kinh doanh xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; phát huy quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; đồng thời bảo đảm thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước, hài hòa lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước…

Đối với quản lý giá điện, ngày 20/11/2012 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Luật này có hiệu lực từ 01/7/2013, quy định cụ thể về cơ chế quản lý và điều hành giá điện theo hướng bám sát tín hiệu thị trường.

Về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tại Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 07/01/2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, Chính phủ đã giao các Bộ: Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách kiểm soát chất lượng hàng xuất khẩu; kiểm soát chặt chẽ vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu.

Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương, thực hiện đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ cho các cơ sở chế biến thủy sản, nâng cao tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường kiểm soát, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ.

Các Bộ: Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương nhằm xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm thực phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; triển khai quyết liệt các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm.

3.  Về tái cơ cấu đầu tư công

Hiện nay Chính phủ cũng đang gấp rút thực hiện tái đầu tư công theo hướng sau:

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách phân cấp, quản lý đầu tư công. Xây dựng, trình ban hành Luật Đầu tư công theo hướng thống nhất quản lý các loại vốn đầu tư nhà nước, bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư của Nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.

- Thực hiện quyết liệt, nhất quán, hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; trong đó tập trung vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia; dành một phần thỏa đáng vốn ngân sách nhà nước để tham gia các dự án hợp tác công-tư, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với những dự án quan trọng quốc gia có hiệu quả cao và tác động lan toả lớn đối với phát triển kinh tế -xã hội trong vùng, liên vùng, khuyến khích thực hiện theo hình thức PPP, BOT, BT, BO,… hoặc phát hành trái phiếu công trình, tăng cường huy động và bảo đảm cân đối đủ vốn để triển khai thực hiện.

- Không phân bổ và thực hiện đầu tư mới vào các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh doanh như dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, sản xuất vật liệu xây dựng và một số ngành, lĩnh vực khác.

- Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn, phân bố vốn và thực hiện dự án đầu tư nhà nước; chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội; tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, cấp bách; khắc phục hiệu quả tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.

-Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; đồng thời, tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư công nói riêng và hoạt động đầu tư công nói chung. Tăng cường chấp hành pháp luật, cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.

4. Về tăng cường quản lý các nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ

Ngày 15/10/2011 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 1792/CT-TTg về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ nhằm đồng bộ hóa các biện pháp quản lý đầu tư từ ngân sách và nguồn trái phiếu Chính phủ để tiến tới loại bỏ tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của Nhà nước. Một số nội dung chủ yếu của Chỉ thị này là:

- Các cấp có thẩm quyền chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã được phê duyệt, chỉ được quyết định đầu tư khi xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách. Việc xác định nguốn vốn và cân đối vốn là nội dung quan trọng, phải có trong hồ sơ dự án trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Những dự án được quyết định đầu tư mà không xác định rõ nguồn vốn, mức vốn, làm cho dự án thi công phải kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định phải chịu trách nhiệm về những tổn thát do việc kéo dài này gây ra.

- Các dự án đã được quyết định đầu tư phải thực hiện theo mức vốn kế hoạch được giao để không gây nên nợ đọng xây dựng cơ bản; mọi trường hợp bổ sung vốn, điều chuyển nội bộ vốn ngành, lĩnh vực chỉ được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền giao vốn chấp thuận. Các bộ, ngành, địa phương tự cân đối các nguồn vốn để xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền.

- Việc cấp phát, ứng chi vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ từ Kho bạc Nhà nước cho các dự án đầu tư phải theo khối lượng thực hiện. Đối với dự án chưa có khối lượng thực hiện, việc tạm ứng vốn tối đa là 30% của tổng mức vốn kế hoạch được giao hàng năm. Việc cấp phát và ứng chi tiếp chỉ thực hiện sau khi thanh toán khối lượng hoàn thành.

- Trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, cân đối thu chi còn nhiều khó khăn, đầu tư ngân sách nhà nước chỉ tập trung đầu tư cho các công trình, dự án đã được bố trí vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ (còn thiếu vốn), đang triển khai trong các kế hoạch hàng năm để bảo đảm hoàn thành dứt điểm, đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Đối với các dự án khởi công mới, phải cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ bố trí vốn khởi công mới các dự án thật sự cấp bách, cấp thiết khi xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách. Không bố trí vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án không thuộc nhiệm vụ chi đầu tư theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Đồng thời đề xuất các giải pháp huy động vốn từ các thành phần kinh tế ở trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các dự án có thể thu hồi vốn trực tiếp.

5. Về đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Nghị định số 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được Chính phủ ban hành ngày 04/6/2010. Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện, Chính phủ cũng đánh giá rằng Nghị định thực sự vẫn còn một số hạn chế, chưa đi vào cuộc sống, một số ưu đãi, hỗ trợ đầu tư  trong Nghị định thực sự vẫn chưa đủ mạnh để hấp dẫn, lôi kéo các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Do đó tại Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 7/3/2012 về chương trình làm việc của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định trên. Thời gian qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, tích cực phối hợp với các Bộ ngành và địa phương tiến hành nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung Nghị định 61/NĐ-CP. Dự thảo Nghị định mới với điều khoản hỗ trợ đủ mạnh, đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn... Đặc biệt về cơ chế tài chính được thiết kế theo hướng đảm bảo tính khả thi với các thủ tục được đơn giản hóa, dễ thực hiện và kiểm soát,  nguồn vốn để hỗ trợ được xác định rõ.

Ngoài ra để đảm bảo cân đối cung cầu trong nông nghiệp hợp lý, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các các bộ, ngành, địa phương để hoàn thiện Đề án phát triển mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế ở nông thôn (trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp, khoa học, thương mại, hiệp hội ngành hàng) trình Thủ tướng Chính. Hiện nay cũng đã xuất hiện một số mô hình liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và người nông dân có hiệu quả như “Cánh đồng mẫu lớn” ở Đồng bằng sông Cửu Long, liên kết sản xuất chế biến mía đường tại Tuyên Quang, Thanh Hóa, Bình Định,…

Về việc bảo đảm tăng mức đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: Trong khi điều kiện kinh tế còn khó khăn, cùng với chủ trương tái cơ cấu và thắt chặt đầu tư công, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục được nhà nước quan tâm đầu tư. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã tăng mạnh (trong 3 năm sau khi có Nghị quyết 2009-2011 tổng số vốn đầu tư cho lĩnh vực đạt khoảng 285.000 tỷ đồng, tăng gấp đôi so 3 năm 2006-2008 trước khi có Nghị quyết.

Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, tiếp tục cải thiện chất lượng sống ở nông thôn thông qua:

- Tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn, kết nối các làng xã đến thị trấn, trung tâm tỉnh lỵ.

- Phát triển các khu đô thị nhỏ, các cụm dân cư với cách thức tổ chức cuộc sống tương tự như dân cư thành thị.

- Nâng cấp, phát triển cả về quy mô và chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, nhất là cấp huyện, đồng thời, tuyên truyền, thuyết phục để khôi phục niềm tin của người dân vào chất lượng các dịch vụ tuyến cơ sở bằng các kết quả thiết thực.

- Hỗ trợ, đầu tư tập trung và đồng bộ (cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, chương trình, giáo trình, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề…) theo các nghề trọng điểm đã được quy hoạch đối với các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề ở các vùng nông thôn.

 6. Về đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng sâu, vùng xa

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, tập trung nhiều nguồn lực (tài chính, con người, ...) nhằm phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã xác định: “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch và có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển, phát huy lợi thế từng vùng, ..., tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các khu vực còn nhiều khó khăn, ...”; xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hội đối với từng vùng, xây dựng nông thôn mới... Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ) đã đưa ra quan điểm, mục tiêu, các định hướng ưu tiên: “... Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển, phát huy lợi thế của từng vùng, tạo sự liên kết giữa các vùng. …”; “Ưu tiên nguồn lực để giảm nghèo và nâng cao điều kiện sống cho đồng bào ở những vùng khó khăn nhất…”; “Xây dựng và củng cố vững chắc nông thôn theo các tiêu chí nông thôn mới”.

Trên cơ sở các Chiến lược đã được phê duyệt, các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh đã được thể chế hóa thành các chương trình mục tiêu, các cơ chế chính sách để phát triển các Vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn. Ngày 02/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới làm cơ sở để đầu tư xây dựng nông thôn mới thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.

Trong kế hoạch đầu tư phát triển hàng năm, việc xây dựng các chương trình, dự án cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm được nhà nước đặc biệt quan tâm; thông qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn đầu tư hàng năm như Chương trình 30a (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012: 2.400 tỷ), chương trình 134 kéo dài (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012:550 tỷ đồng),  Quyết định 74/2008/QĐ-TTg (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012:230 tỷ đồng), Chương trình 135, Chương trình 04 dân tộc thiểu số ít người,.... Các chương trình hỗ trợ của Trung ương cho địa phương luôn được tính cho giai đoạn; trường hợp bố trí vốn cho giai đoạn chưa hoàn thành sẽ tiếp tục bố trí vốn cho giai đoạn tiếp theo (mỗi giai đoạn thường là 5 năm) như Chương trình 134, Quyết định 74/2008/QĐ-TTg....

Do vậy, việc phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn luôn được Nhà nước quan tâm bằng các chính sách có chiến lược dài hạn, đầu tư các cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho các vùng này có cuộc sống ổn định và hạn chế tình trạng di cư đến các thành phố lớn.

6. Về chính sách hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Việc xây dựng các chương trình, dự án cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư thông qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn đầu tư hàng năm như Chương trình 30a (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012 là 2.400 tỷ), chương trình 134 kéo dài (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012 là 550 tỷ đồng),  Quyết định 74/2008/QĐ-TTg (kế hoạch vốn bổ sung mục tiêu năm 2012 là 230 tỷ đồng).

Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 đã được thay thế bằng Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 về việc ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015.

Đối với Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp việc điều chỉnh, bổ sung từ các kiến nghị, đề xuất của 9 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và ý kiến của các Bộ, ngành liên quan, Bộ đã có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ tại các Tờ trình số 8649/TTr-BKHĐT ngày 15/12/2011, số 7963/TTr-BKHĐT ngày 12/10/2012 "Về việc phê duyệt Quyết định một số chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2015".

Ngày 12/11/2012, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 9110/VPCP-ĐP giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan: Tài chính, Lao động Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ủy ban Dân tộc và các cơ quan liên quan hoàn thiện dự thảo Quyết định, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2013-2015 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiếp tục triển khai lấy ý kiến của các Bộ, ngành và các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long trước khi tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Quyết định nhằm đáp ứng được nguyện vọng và hiệu quả của việc hỗ trợ đầu tư cho dân tộc thiểu số nghèo vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở mức cao nhất.

XI. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông -Vận tải

 Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ GTVT tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1. Về xây dựng cơ sở hạ tầng:

Cử tri tập trung kiến nghị về việc thi công các tuyến đường Quốc lộ 1A, Đường hồ Chí Minh, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (Quốc lộ 5B), Quốc lộ 38A, đường Đông Trường Sơn, Quốc lộ 20, Quốc lộ 27, Quốc lộ 28 vì đây là những tuyến đường huyết mạch.

- Quốc lộ 1 A là tuyến đường giao thông huyết mạch trên trục Bắc Nam đi qua nhiều tỉnh, thành phố, khu công nghiệp… Do tốc độ đô thị hóa nhanh trên một số đoạn QL 1 đi qua làm ảnh hưởng đến việc thoát nước khu vực, làm mặt đường dễ ngập úng khi mưa lớn. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã có chủ trương và hiện đang tập trung chỉ đạo các nguồn lực để nâng cấp, mở rộng QL 1 A đoạn từ Hà Nội đến Cần Thơ hoàn thành trong năm 2016, giao cho BGTVT và các bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện. Bộ GTVT đang tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và phối hợp các địa phương kêu gọi đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có hình thức đầu tư BOT. BGTVT và các cơ quan chức năng sẽ tăg cường công tác kiểm tra hiện trường, kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của chủ đầu tư, Ban QLDA, của các đơn vị tư vấn giám sát, nhà thầu để chấn chỉnh kịp thời mọi hoạt động trong quá trình xây dựng công trình.

- Về dự án Đường Hồ Chí Minh :

Giai đoạn 1 của dự án đường Hồ Chí Minh từ Hòa Lạc (Hà Nội) đến Tân Cảnh (Kon Tum) đã cơ bản hoàn thành; giai đoạn 2 và giai đoạn 3 do chưa đủ vốn nên chưa hoàn thành. BGTVT đang phối hợp với các bộ ngành lập phương án phát hành trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh để đầu tư đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên; chỉ đạo Chủ đầu tư nghiên cứu khả năng chuyển đổi hình thức đầu tư để kêu gọi nguồn vốn xã hội hóa đầu tư và tiếp tục phối hợp với các Bộ ngành huy động nguồn vốn hợp pháp để đầu tư các đoạn còn lại.

- Về dự án Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (Quốc lộ 5B)

Dự kiến tiến độ thi công của Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên sẽ hoàn thành vào cuối năm 2014.

- Về QL 38:

Năm 2012 v à 2013, Tổng cục ĐBVN đã bố trí vốn sửa chữa mặt đường, sửa chữa hư hỏng cục bộ cầu cống tranh 1 KM 36 + 836, hoàn thành năm 2013 và tiếp tục sửa chữa các đoạn bị hư hỏng để đảm bảo giao thông an toàn.

- Về QL 91:

BGTVT đã phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang hoàn thành xử lý bước 1 (di chuyển dân cư ra khỏi vùng sạt lở…) để đảm bảo an toàn tính mạng cho người dân và an toàn trên Quốc lộ 91. Dự án đầu tư kiên cố hóa QL 91 đoạn qua địa phận tỉnh An Giang  đã được thủ tướng CP cho phép sử dụng nguồn vốn NSNN năm 2013 để triển khai, dự kiến khởi công trong quý III năm 2013.

- Về tuyến đường Trường Sơn Đông: Theo kế hoạc tuyến đường này sẽ hoàn thành trong năm 2015.

- Về Quốc lộ 20: Theo dự kiến kế hoạc QL 20 có thể hoàn thành khôi phục, cải tạo và nâng cấp toàn tuyến vào cuối năm 2015.

- Quốc lộ 27: Đang được triển khai thực hiện.

- Quốc lộ 28: BGTVT đã và đang triển khai đầu tư các dự án.

2. Về vấn đề an toàn giao thông.

Cử tri tập trung kiến nghị nhiều về việc ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tai nạn giao thông trên phạm vi cả nước và khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn và việc thu các loại phí giao thông mà BGTVT đề xuất triển khai thực hiện trong thời gian tới.

Hiện nay, BGTVT đã tiến hành nhiều giải pháp lâu dài và cấp bách để giảm bớt ùn tắc giao thông. Trong thời gin tới, BGTVT phối hợp với các Bộ, ngành và các thành phố tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục ùn tắc giao thông trên cơ sở rút kinh nghiệm, phát huy những giải pháp hiệu quả đã thực hiện trong thời gian qua.

XII.  Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng

 Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ GTVT tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1. Về chính sách nhà ở đối với cán bộ quân đội.

Chính sách nhà ở đối với cán bộ quân đội đnag tịa ngũ đươc quy định trong Luật Nhà ở năm 2005, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân ngày 21/12/1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐND VN ngày 3/6/2008. Tuy nhiên, thực tế việc đảm bảo nhà ở đối với cán bộ đang tại ngũ trong quân đội theo Luật còn rất hạn chế. Để đảm bảo nhà ở đáp ứng được nhu cầu nhà ở cho cán bộ quân đội, BQP đang phối hợp các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Nghị định về chính sách nhà ở đối với cán bộ quân đội để trình Chính phủ phê duyệt.

2. Về việc thực hiện chế độ chính sách theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg

QĐ 290/2005/QĐ-TTg ngày 8/11/2005 của TTCP về chế độ chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và NN đã được tổng kết và đến nay cơ bản đã thực hiện xong.

Về đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo QĐ 290 là: quân nhân, công an nhân dân, cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, cán bộ dân chính đảng, thanh nên xung phong, dân quân du kích. Trong đó đã quy định chế độ trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng và một số chính sách khác đối với thanh niên xung phong tham gia kháng chiến thành thành nhiệm vụ trở về địa phương.

3. Về việc thực hiện chế độ chính sách theo Quyết định 140/2005/QĐ-TTg

Về kiến nghị có trợ cấp cho lãnh đạo Hội Cựu Thanh niên xung phong được hưởng theo QĐ 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của TTCP.

Quyết định 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 quy định về việc thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương. BQP đã trả lời: chế độ đối với Thanh niên xung phong đã được ban hành trong QĐ 40/2011/QĐ-TTg và đề nghị cấp ủy, chính quyền các địa phương tạo điều kiện hỗ trợ Hội Thanh niên xung phong các cấp.

4. Về việc thực hiện chế độ cho người tham gia kháng chiến chống Pháp hiện đang còn sống

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 11/4/2002. TTCP đã ban hành QĐ 47/2002/QĐ-TTg về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ 31/12/1960 trở về trước.  Theo QĐ nêu trên thì quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp (trong đó có các chiến sỹ ĐBP) nhập ngũ hoặc tuyển dụng vào quân đội trước ngày 20/7/1954, đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ 31/12/1960 trở về trước, không thuộc diện được hưởng lương hưu, hoặc trợ cấp mất sức lao động hàng tháng, hoặc hưởng chế độ bệnh binh, được thực hiện chế độ trợ cấp một lần theo số năm thực tế phục vụ trong quân đội. Được Chính phủ giao, BQP chủ trì phối hợp với các Bộ ngành địa phương chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách kịp thời, chu đáo cho hơn 26 vạn đối tượng theo QĐ 47/2002/QĐ-TTG của CP. Ngoài chính sách theo QĐ nêu trên, theo Pháp lệnh Cựu Chiến binh thì quân nhân tham gia kháng chiến chống Pháp còn được hưởng chế độ BHYT và chế độ mai táng phí khi từ trần theo quy định hiện hành.

Như vậy, chế độ ưu đãi cho các chiến sỹ Điện Biên Phủ hiện đang còn sống vẫn chưa được thực hiện mặc dù đã có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ từ năm 2002 đến nay.

XIII. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Công an

           Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ Công an tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

Nhìn chung, các kiến nghị của cử tri đề cập đến nhiều lĩnh vực công tác của lực lượng Công an nhân dân, thể hiện sự quan tâm của cử tri và trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trong đó, nhiều kiến nghị đề cập đến những vấn đề bức xúc đang nổi lên trong xã hội mà Bộ Công an đã và đang tập trung giải quyết để đảm bảo an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội như: tình trạng nhân dân qua biên giới Tây Nam đánh bạc, đua xe trái phép, công tác quản lý người nước ngoài tại Việt Nam…; về chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sỹ làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, lực lượng Công an xã…

Những kiến nghị của cử tri mà Bộ Công an đang nghiên cứu, giải quyết chủ yếu liên quan đến việc hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, như: kiến nghị sớm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các điều luật xử lý tội phạm về môi trường; về sửa đổi, bổ sung Nghị định để tăng mức phạt đối với người mua dâm; vấn đề xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi liên quan đến ma túy; về nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến hôn nhân với người nước ngoài… Việc sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật cần phải có thời gian, Bộ Công an đang phối hợp với các bộ, ngành chức năng tập trung nghiên cứu, giải quyết và sẽ báo cáo kết quả thực hiện trong thời gian tới.

XIV. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp

 Văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tại  kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII của Bộ Công an tập trung vào các nhóm vấn đề sau:

1. Về xây dựng các dự án luật, pháp lệnh:

Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm. Chính phủ đã tổ chức một số phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật (ngoài phiên định kỳ hàng tháng) để tập trung thảo luận, cho ý kiến về các dự án luật, pháp lệnh. Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc các Bộ, ngành chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh đảm bảo đúng thời gian quy định. Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, Bộ Tư pháp có báo cáo và đề xuất nội dung đưa vào chương trình phiên họp hàng tháng của Chính phủ về tình hình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh. Các Bộ, ngành chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, về cơ bản, đã tuân thủ đúng các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008: Tổng kết, đánh giá việc thi hành pháp luật, đánh giá tác động, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đối tượng chịu tác động trực tiếp và nhân dân đối với các dự án luật, pháp lệnh. Năm 2012, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 27/27 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết (21 dự án luật, 02 dự án nghị quyết và 04 dự án pháp lệnh) do Chính phủ trình, đạt tỷ lệ 100% (năm 2011 đạt tỷ lệ 90%).

2. Về xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh:

Việc xây dựng, ban hành kịp thời, đầy đủ, bảo đảm chất lượng các VBQPPL quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh luôn là ưu tiên hàng đầu, được quan tâm thường xuyên trong công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có biện pháp chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt đối với công tác này như: phân công, xác định rõ trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp, định kỳ báo cáo tiến độ xây dựng các VBQPPL quy định chi tiết thi hành các luật, pháp lệnh. Từ đó, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác, cụ thể: Tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng văn bản đã giảm theo từng năm; chất lượng văn bản được nâng lên. Báo cáo của Chính phủ cho thấy, với 760 nội dung cần quy định chi tiết trong các luật, pháp lệnh được thông qua từ ngày 01/01/2009 đến ngày 30/6/2012, có 611 nội dung quy định chi tiết 46 luật, pháp lệnh có hiệu lực đến hết năm 2012 và 149 nội dung quy định chi tiết 15 luật, pháp lệnh sẽ có hiệu lực vào năm 2013. Có 386/611 nội dung quy định chi tiết 46 luật, pháp lệnh có hiệu lực đến hết năm 2012 đã được quy định chi tiết (đạt 71,5%), còn 225/611 nội dung chưa quy định chi tiết (chiếm 28,5%, là tỷ lệ thấp nhất trong 10 năm gần đây).

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác xây dựng pháp luật trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như cử tri đã phản ánh, đó là: Một số dự án luật, pháp lệnh chuẩn bị chậm, không đảm bảo tiến độ, phải điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (năm 2012 có 10 dự án luật phải điều chỉnh tiến độ); chất lượng một số dự án luật, pháp lệnh còn hạn chế dẫn đến việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu chuẩn bị lại (năm 2012 có 3 dự án luật); vẫn còn tình trạng nhiều VBQPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chưa được ban hành kịp thời để bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm với hiệu lực của luật, pháp lệnh; một số VBQPPL được ban hành chưa bảo đảm chất lượng, tính khả thi, không phù hợp với thực tế.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Bộ Tư pháp đã và đang tiếp tục tăng cường tham mưu cho Chính phủ thực hiện các giải pháp sau đây:

- Thường xuyên quán triệt cho lãnh đạo các Bộ, ngành về tầm quan trọng  của công tác xây dựng VBQPPL; triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Kiên quyết chưa trình Chính phủ và Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội những dự án luật, pháp lệnh chưa đạt chất lượng.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong xây dựng VBQPPL; đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường kỷ luật, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh.

- Khẩn trương kiện toàn tổ chức pháp chế Bộ, ngành theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ; quan tâm, đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật, xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia, các nhà khoa học và cán bộ, công chức giỏi tham gia vào quá trình xây dựng VBQPPL.

- Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL; khẩn trương xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2004.

XV. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hoàn thành việc xây dựng Dự thảo Đề án về thời hạn cơ chế bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên. Đề án đã phân tích những thuận lợi, khó khăn và bất cập; nêu những kiến nghị, đề xuất khắc phục như: Không quy định nhiệm kỳ đối với các chức danh Kiểm sát viên hoặc kéo dài nhiệm kỳ (có thể 10 năm) đối với các chức danh Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên cấp cao khi Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo 4 cấp. Đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì bổ nhiệm không có thời hạn; Dự thảo Đề án này đã được Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương thẩm định và cơ bản tán thành nhiều kiến nghị. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang hoàn thiện Đề án để báo cáo Bộ Chính trị.

XVI. Lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao.

Trong những năm qua, các địa phương đã và đang tích cực triển khai nhiều biện pháp để tuyển dụng công chức, nhiều địa phương đã thực hiện đủ số biên chế được giao. Tuy nhiên, tại ngành Tòa án nhân dân ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên nói riêng chưa thực hiện đủ chỉ tiêu biên chế được giao. Nguyên nhân chủ quan là do các địa phương này và Tòa án nhân dân tối cao chưa có biện pháp hữu hiệu để tuyển dụng công chức cho ngành, đồng thời còn do những nguyên nhân khách quan sau:

- Sinh viên tốt nghiệp Đại học luật không có nguyện vọng về ngành Tòa án công tác.

- Không có nhà ở công vụ cho những người ở xa có nguyện vọng chuyển về công tác tại những đơn vị này.

- Lương và các chế độ đối với công chức được tuyển dụng vào ngành Tòa án còn thấp, chưa đảm bảo cho đời sống cá nhân, trong khi đó điều kiện sinh hoạt và đi lại ở những địa phương này gặp rất nhiều khó khăn;

- Áp lực công việc cao, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm lớn, thường xuyên phải đi điều tra, xác minh án nhưng không có phương tiện đi lại mà phải tự túc, nên có một số trường hợp sau khi được tuyển dụng vào Tòa án lại xin chuyển công tác sang ngành khác hoặc xin thôi việc.

Để khắc phục tình trạng khó khăn trong việc tuyển dụng công chức vào công tác tại các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân tối cao đã và đang chỉ đạo các Tòa án nhân dân địa phương cần chủ động hơn nữa trong việc tìm nguồn để tuyển dụng. Tuy nhiên, cần phải có các chế độ, chính sách khuyến khích, thu hút sinh viên về công tác tại các địa phương này như:

- Điều chỉnh chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án, vì đây là động lực cơ bản, khuyến khích họ làm việc tận tụy và hiệu quả là cơ sở để nâng cao chất lượng công vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế.

- Tạo điều kiện về nhà ở và các điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho các  sinh viên được tuyển dụng hoặc công chức luân chuyển về công tác tại địa phương để họ yên tâm công tác.

- Có giải pháp về tiền lương nhằm thu hút cán bộ, công chức từ thành phố, các tỉnh đồng bằng về công tác tại Tòa án nhân dân các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đồng thời, có chế độ ưu đãi đặc biệt để luân chuyển có thời hạn đối với cán bộ, công chức công tác ở những địa phương này.

- Tìm nguồn từ các cơ quan khác đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn có nguyện vọng về công tác tại các Tòa án nhân dân địa phương.

- Thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ (trên thực tế, trong những năm qua Tòa án nhân dân tối cao đã biệt phái hàng trăm Thẩm phán, Thư ký Tòa án tới các vùng sâu, vùng xa, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long). Tuy nhiên, các giải pháp nêu trên cũng chỉ là những biện pháp có tính chất tạm thời để tháo gỡ những khó khăn, chưa phải là những giải pháp mang tính chiến lược lâu dài.

- Phối hợp với các cơ sở đào tạo Luật ở trong nước để thực hiện việc tuyển chọn, hợp đồng đào tạo cán bộ cho ngành; phối hợp với chính quyền địa phương và ký hợp đồng với các cơ sở đào tạo để đào tạo hệ cử tuyển đối với con em người dân tộc thiểu số, người có gia đình đang sinh sống ổn định, lâu dài ở miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa đã học xong trung học hoặc các trường dân tộc nội trú của các tỉnh.

Trong thời gian tới, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiến hành nghiên cứu, xây dựng và đề xuất phương án chọn, cử tuyển đối với con em địa phương, người dân tộc thiểu số nhằm bổ sung nguồn cán bộ cho Tòa án miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

- Về việc điều chỉnh lại mức lương của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện

Tại Chương trình làm việc số 06-CTr/TW ngày 15-3-2011 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2011 có giao cho Ban Cán sự Đảng Toà án nhân dân tối cao chủ trì xây dựng “Đề án tăng cường cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cho ngành Toà án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới”. Đây là một Đề án mang tính tổng thể trong công tác xây dựng ngành Toà án theo tinh thần cải cách tư pháp. Sau khi được Bộ Chính trị, Ban Bí thư phê duyệt, để thực hiện được Đề án này, Toà án nhân dân tối cao sẽ phải phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt các tiểu đề án; trong đó, có nội dung về cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức ngành Toà án nhân dân giai đoạn 2013-2020, theo hướng xây dựng bảng lương riêng (hoặc cùng với ngành kiểm sát) đối với các chức danh tư pháp ngành Toà án. Theo đó, bảng lương của Thẩm phán gồm có: thang lương của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thang lương của Thẩm phán cấp cao; thang lương của Thẩm phán trung cấp và thang lương của Thẩm phán sơ cấp. Trong đó, bậc lương khởi điểm của Thẩm phán sơ cấp phải đảm bảo mức sống của bản thân và gia đình ở mức khá trong xã hội.

- Về việc  phân bổ chỉ tiêu biên chế chuyên trách làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

Việc bố trí cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp tại các Tòa án địa phương hiện nay do Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh chủ động xem xét, quyết định trong tổng số biên chế được phân bổ.

- Về việc tăng biên chế Thẩm phán, Thư ký cho Toà án nhân dân cấp huyện

Căn cứ Nghị quyết số 473a/NQ-UBTVQH13 ngày 28/3/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội phê duyệt chỉ tiêu biên chế cho ngành Tòa án nhân dân, thì biên chế của toàn ngành được bổ sung 1.713 người. Trên cơ sở số lượng biên chế được phê duyệt, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo việc triển khai xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu biên chế và hướng dẫn các Tòa án địa phương thực hiện. Đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã hoàn thành việc phân bổ chỉ tiêu biên chế và đã có quyết định gửi các Tòa án nhân dân địa phương.

                                                                  

 



[1] Theo nguồn từ Bộ Công Thương tại công văn số 120/BC-BCT ngày 25/12/2012  báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về rà soát, đánh giá và đề xuất hướng sửa đổi Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009  của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.


VP Đoàn ĐBQH  (Cập nhật ngày 24-04-2013)    



Các tin liên quan:
  Thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp 500.000 đồng/năm (11-04-2013)
     Tin đọc nhiều
     Hình ảnh hoạt động
     Video
Lịch công tác
Đại biểu nhân dân
Cổng thông tin  điện tử
Dự thảo online
Báo Bình Định
Đời Sống & Pháp luật
Công báo Chính phủ
Công báo Bình Định
     Tìm kiếm tin tức
Từ khóa:
Mục tin:
     Thông tin cần biết
Thời tiết
     Liên kết
     Thống kê người dùng
  Đang online:               24
  Số lượt truy cập: 661024
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 01 Trần Phú - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định
Tel:056.3824849 - Fax:056.3824448 - Email: binhdinh@qh.gov.vn
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT - Viễn thông Bình Định (ITA)