Báo cáo Giám sát

 

Thực hiện Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Mục đích chính của cuộc giám sát là đánh giá tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2006 đến năm 2011;làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, vướng mắc; xác định nguyên nhân, trách nhiệm của cácbộ, ngành, địa phương; từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và thực hiện có hiệu quả hơn.

Đoàn giám sát đã yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi báo cáo về nội dung giám sát. Đến ngày 16/4/2012, Đoàn giám sát đã nhận được báo cáo của 22 bộ, ngành, 61 báo cáo của UBND tỉnh, thành phố, 52 Đoàn đại biểu Quốc hội. Ngoài ra, Đoàn giám sát đã trực tiếp làm việc với đại diện của 23 Bộ/ngành, 18 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 25 huyện, xã và khảo sát thực tế tại nhiều công trình, dự án trong cả nước. 

Đoàn giám sát xin báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội những nội dung chủ yếu như sau:

PHẦN I

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BAN HÀNH CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG

CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

I. Kết quả đạt được

(1) Đảng ta luôn quan tâm và đề ra nhiều chủ trương, chính sách, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Qua các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, Ðảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở, là lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Trải qua các kỳ của Đại hội Đảng, vấn đề này ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, phù hợp với tình hình, yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển của đất nước[i]. Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần Thứ 7, khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó xác định rõ mục tiêu, đề ra các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp cụ thể để thực hiện xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn.

(2) Quốc hội, UBTVQH đã ban hành khá đầy đủ hệ thống chính sách, pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng.

Trong những năm qua, Quốc hội, UBTVQH đã ban hành nhiều đạo luật và nghị quyết tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển khu vực nông nghiệp như: Luật đầu tư, Luật ngân sách nhà nước, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật đất đai, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật đê điều, Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật quản lý nợ công, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, Pháp lệnh giống cây trồng, giống vật nuôi, Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch kinh tế - xã hội, Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước và Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương, Nghị quyết chuyên đề về đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn,…

 (3) Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành luật, đề ra các chương trình, chính sách cụ thể thực hiện đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành 8 nghị quyết, 45 nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 137 quyết định có liên quan về thực hiện các dự án, chương trình, mục tiêu quốc gia, Chương trình hỗ trợ có mục tiêu, quản lý vốn ODA, trái phiếu Chính phủ, tín dụng ngân hàng và các chủ trương cụ thể cho đầu tư liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành 138 thông tư, thông tư liên bộ hướng dẫn các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, các địa phương đã ban hành các chương trình hành động, nhiều quyết định liên quanđể triển khai thực hiện, đồng thời ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể của địa phương đối với việc đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

2. Những hạn chế, vướng mắc

Bên cạnh các mặt tích cực đã đạt được, chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời gian qua vẫn còn những hạn chế, vướng mắc, đó là:

(1) Còn thiếu tính hệ thống do việc ban hành trong nhiều giai đoạn khác nhau, quan điểm, nhận thức còn khác nhau. Một số văn bản hướng dẫn ban hành chưa kịp thời, đầy đủ và đồng bộ, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình thực hiện[ii].Ngay cả khi có các văn bản hướng dẫn thực hiện luật, pháp lệnh của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương thì vẫn có nhiều văn bản chưa áp dụng được ngay mà cần cụ thể bằng văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân địa phương. Nhiều văn bản hướng dẫn còn chậm làm ảnh hưởng việc triển khai các công trình, dự án chậm tiến độ, chưa phát huy hiệu quả như mong muốn. Tính ổn định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, nhiều nội dung trong các văn bản pháp luật, nghị định, thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc bị thay thế bởi văn bản khác, gây khó khăn cho triển khai thực hiện.

(2) Quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của chủ thể còn chung chung, dẫn tới tình trạng thiếu trách nhiệm trong quản lý đầu tư công, gây lãng phí và hiệu quả đầu tư không cao[iii].Nhiều văn bản quy phạm pháp luật chưa thực sự phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương, nghĩa vụ của từng đối tượng thi hành. Các quy định về quy trình lập dự án, tổ chức quản lý dự án, tổ chức đấu thầu xây dựng, tổ chức giám sát áp dụng cho các công trình ở nông thôn chưa thực sự phù hợp, quá trình thực hiện tốn nhiều thời gian và chi phí.

(3) Cơ chế chính sách để xây dựng nông thôn mớihiện còn chưa đồng bộ, ngoài 7nội dung được hỗ trợ 100% theo Quyết định 800/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ, phần còn lại mức hỗ trợ cho từng đối tượng chưa rõ; chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mớicho cácxã theo khu vực chưa được xác định cụ thể; việc lồng ghép của các chương trình khác với chương trình nông thôn mớicòn nhiều khó khăn, bất cập. Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, có một số tiêu chí chưa phù hợp với thực tế từng vùng, từng địa phương, dẫn đến rất khó thực hiện, như các tiêu chí về đường giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, nhà ở dân cư, thu nhập, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất.

- Cơ cấu nguồn vốn thực hiện Chương trình (ngân sách 40%, tín dụng 30%, doanh nghiệp 20%, huy động dân đóng góp 10%) chưa phù hợp, khó thực hiện, với những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đời sống, thu nhập của người dân còn thấp, khả năng huy động sự tham gia, đóng góp của người dân, doanh nghiệp là không cao. Quy định cơ chế, thủ tục giải ngân nguồn vốn hỗ trợ còn phức tạp.

- Các quy định về hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị tại Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ Xây dựng không phù hợp để áp dụng cho việc xây dựng quy hoạch nông thôn mới vì quy hoạch xã nông thôn mới bao gồm cả quy hoạch không gian tổng thể, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và quy hoạch sản xuất.

(4) Việc quy định khống chế hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại Điều 70 Luật đất đai, gây khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm. Quy định về công tác giải phóng mặt bằngcòn nhiều bất cập, khó khăn, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước (đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) khi thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế và quyền của người dân có đất bị thu hồi.Việc quy định thời hạn sử dụng đất (Điều 67, 68, 69 Luật đất đai)đến nay đã gần hết thời hạn giao đất nhưng chưa có chủ trương cụ thể nên nông dân không mạnh dạn và an tâm đầu tư.

(5) Cơ chế tài chính thực hiện kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, dự án cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, dự án cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn khó triển khai nhanh trên thực tế vì nguồn vốn thực hiện chủ yếu bằng việc huy động đóng góp của nhân dân, tuy nhiên ở những địa phương kinh tế - xã hội còn khó khăn, đời sống thu nhập người dân còn thấp thì khả năng đóng góp của người dân và doanh nghiệp là không cao, trong khi đó ngân sách chỉ hỗ trợ tối đa không quá 60%.

(6) Chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn nhất là nguồn vốn cho vay trung, dài hạn quá ít so với nhu cầu, thủ tục phức tạp nên khả năng tiếp cận vốn tín dụng của một bộ phận người dân sản xuất nhỏ còn hạn chế[iv].

(7) Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập: các Hợp tác xã nông nghiệp chưa được tạo điều kiện giao đất để xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, cơ sở dịch vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Các Hợp tác xãnông nghiệp rất khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình xúc tiến thương mại vì các thủ tục hành chính rất phức tạp. Tiếp cận các nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại cũng hết sức khó khăn do không thể đáp ứng yêu cầu về tài sản thế chấp và khả năng quản lý hiệu quả của một bộ phận kinh tế tập thể.

PHẦN II

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 VÀ NĂM 2011

I. Kết quả đạt được

1.1. Huy động vốn đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn từng bước được cải thiện

Giai đoạn 2006-2011, tổng vốn đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ là 432.787 tỷ đồng, bằng 49,67% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ[v]. Thời kỳ trước khi có Nghị quyết Hội nghị lần Thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X),trong 3 năm 2006-2008, tổng vốn đầu tư bố trí cho lĩnh vực này là 146.575 tỷ đồng, bằng 45,2% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ[vi].

Sau khi Nghị quyết Trung ương lần Thứ 7 được ban hành, đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được quan tâm nhiều hơn và mức đầu tư đã tăng lên rõ rệt. Trong giai đoạn 2009-2011, mức đầu tư cho khu vực này tăng lên theo từng năm[vii], tổng vốn đầu tư bố trí cho lĩnh vực này trong 3 năm là 286.212 tỷ đồng, bằng 52,3% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ[viii], gấp 1,95 lần so với trước khi có Nghị quyết (giai đoạn 2006-2008). 

Bên cạnh đó, hàng năm Nhà nước còn bố trí nguồn vốn dự phòng ngân sách Trung ương để hỗ trợ các địa phương và nông dân[ix].

Trong giai đoạn 2006-2011, tổng giá trị Hiệp định về ODA đã được ký kết hơn 26,897 tỷ USD, với hơn 94% là nguồn vốn vay ưu đãi, trong đó vốn đầu tư dành cho nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp và thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói, giảm nghèo là 3,833 tỷ USD.

Dưnợ cho vaytheo cơ chế thương mạitrong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũngtăng trưởng qua các năm với tốc độ tăng bình quângần 24%/năm[x].

1.2. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên đầu tư và ngày càng hoàn thiện tác động tích cực cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, góp phần nâng cao đời sống nông dân, cải thiện diện mạo nông thôn

- Thủy lợi là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, nhiều công trình thủy lợi quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng góp phần tăng cường năng lực tưới tiêu, góp phần ngăn mặn, phát triển sản xuất nông nghiệp[xi].Đến nay, tổng năng lực tưới thiết kế của các hệ thống thuỷ lợi khoảng 3,45 triệu ha đất canh tác. Các công trình thuỷ lợi còn góp phần ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, duy trì cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp trên 5,65 tỷ m3/năm. Hệ thống đê biển, đê sông cũng được quan tâm đầu tư củng cố, nâng cấp[xii].

- Hạ tầng giao thông nông thôn đã thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư và đạt được kết quả rất quan trọng. Đến 2011 cả nước có 8.940 xã có đường ô tô đến trụ sở Ủy ban nhân dânxã, chiếm 98,6% tổng số xã.

- Mạng lưới điện đến các xã được đầu tư, mở rộng và đạt được những kết quả đáng khích lệ, việc xây dựng lưới điện trung và hạ áp tại các địa bàn nông thôn đã mở rộng mạng lưới cung cấp điện tới các xã, huyện thuộc các địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn, tính đến năm 2011 đã có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện.

- Hệ thống chợ nông thôn đã từng bước được quy hoạch hợp lý, tạo điều kiện đi lại, mua bán thuận lợi cho người dân. Đến năm 2011, hệ thống chợ cả nước tiếp tục phát triển, tổng số chợ đến cuối năm 2011 là 8.729 chợ (trong đó có 226 chợ hạng I, chiếm tỷ lệ 2,58%; 910 chợ hạng II chiếm tỷ lệ 10,42%; 7.593 chợ hạng III chiếm tỷ lệ 86,98%), trong đó chợ nông thôn chiếm khoảng 78%(6.808 chợ). Trụ sở làm việc, nhà văn hóa xã, thôn, sân vận động, công viên, nhà ở nông thôn,... đã từng bước được xây dựng khang trang, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại.

- Hệ thống y tế ở nông thôn cũng được đặc biệt quan tâm đầu tư mở rộng và nâng cấp về chất lượng. Năm 2011 có 40% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã (theo chuẩn mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2020). Theo kết quả điều tra, đến năm 2011 có 94,2% số thôn có cán bộ y tế thôn (năm 2006 có 89,2%). Hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân đã hình thành, góp phần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, đến nay, cả nước có 33,2% số xã có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn và 68,5% xã có cơ sở kinh doanh thuốc tây y.

- Hệ thống trường lớp học: đến năm 2011 có 9.029 xã (99,5%) có trường tiểu học (năm 2006: 99,3%). Cùng với sự phát triển của hệ thống trường tại cấp xã, các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo phát triển, mở rộng đến cấp thôn, đến nay có 45,5% số thôn có lớp mẫu giáo; 15,6% số thôn có nhà trẻ.

- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: tính đến năm 2011, cả nước có 45,5% số xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, tăng 9% so với năm 2006; tỷ lệ hộ dân nông thôn có nước hợp vệ sinh để dùng đạt 83%. Vệ sinh môi trường từng bước được cải thiện với 18,3% số xã có xây hệ thống thoát nước thải chung (năm 2006 có 12,2%).

- Mạng lưới thông tin, văn hoá, thể thao và truyền thông nông thôn đã có sự phát triển mạnh mẽ, góp phần cải thiện đời sống vật chất,tinh thần của nôngdân. Đến năm 2011 đã có 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn; 38,7% số xã có nhà văn hoá; 48% xã có sân thể thao; 61,7% số thôn có nhà văn hoá, 21,9% số thôn có khu thể thao.

- Việc phát triển nghề và làng nghề thời gian qua góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.Hiện cả nước có 4.575 làng nghề, trong đó có trên 1.324 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận.

1.3. Đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được chú trọng, từng bước phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao,... đã tác động tích cực đến sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân

Đầu tư cho hoạt động khuyến nông tăng lên theo các năm[xiii]. Đến nay có 4.208 cơ sở sản xuất giống đã được xây dựng, trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, bông, cây ăn quả,… được dùng giống mới. Một số mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp đã mang lại hiệu quả to lớn như mô hình cánh đồng mẫu lớn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đầu tư công cho lâm nghiệp thời gian qua đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của ngành, cải thiện môi trường sinh thái; tạo công ăn việc làm và thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân địa phương; độ che phủ rừng đã tăng từ 38,2% năm 2006 lên 40,5% năm 2011.Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động tham gia Dự án.

Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh, góp phần nâng cao giá trị sản lượng, giá trị xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho người dân đặc biệt vùng nông thôn ven biển, ven sông. Diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2011 khoảng 1,1 triệu ha, sản lượng thủy sản đạt khoảng 2,9 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân tăng 12,9%/năm.

Sản xuất lương thực đạt được nhiều thành tựu to lớn, bảo đảm được an ninh lương thực quốc gia và phục vụ xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng với tốc độ khá. Trong 5 năm 2006-2010, giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,1%/năm, tăng trưởng giá trị tăng thêm của ngành 3,3% vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm Quốc hội đề ra.

1.4. Công tác an sinh xã hội được đảm bảo; xóa đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách xã hội cho các nhóm đối tượng chính sách chuyển biến tích cực; an ninh trật tự an toàn xã hội tại nông thôn được giữ vững

Kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo trong giai đoạn 2006-2011 đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới,an sinh xã hội vẫn được đảm bảo(Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn 9,45%, giảm 12% so với 2006).Người nghèo đã được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập; một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng (nhà ở, nước sinh hoạt, khám chữa bệnh, học tập,…). Đến nay, đã đảm bảo được việc mua thẻ bảo hiểm y tế, dạy nghề và tạo việc làm cho nhiều đối tượng. 

Công tác đảm bảo an ninh tại địa bàn nông thôn đã được quan tâm, tuyên truyền giáo dục pháp luật được tăng cường và đạt kết quả khá tốt. Nhận thức về pháp luật trong nhân dân và cán bộ có bước chuyển biến mới; ý thức chấp hành pháp luật được nâng lên. Chủ động đấu tranh có hiệu quả, phát hiện kịp thời và tích cực ngăn chặn hoạt động tuyên truyền trái pháp luật,... từ đó góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội.

1.5. Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình mục tiêu khác đã đạt được nhiều kết quả to lớn trong giảm nghèo, phát triển bền vững

Giai đoạn 2006-2011, Chính phủ đã lựa chọn những vấn đề bức xúc, cấp bách nhất của từng ngành, lĩnh vực để giải quyết theo cơ chế Chương trình mục tiêu quốc gia. Hầu hết các chương trình mục tiêu đều đặt trọng tâm ưu tiên đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, do vậy có tác dụng giảm sự chênh lệch giữa khu vực thành thị với vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, vùng khó khăn trong việc tiếp cận và hưởng thụ dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục,... của người dân và cơ bản thực hiện được mục tiêu, kế hoạch đề ra, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nông dân,...

Chương trình xây dựng nông thôn mới sau hơn 1 năm triển khai đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Nhận thức về nông thôn mới đã có nhiều chuyển biến. Qua giám sát cho thấy, đến nay cả 63 tỉnh, thành phố đều đã hoàn thành việc đánh giá sơ bộthực trạng nông thôn mớitheo 19 tiêu chí.Kết quả, cả nước đã có một số ít xã đạt 19 tiêu chí; 1,2% số xã đạt 15 đến 18  tiêu chí; 3,3% số xã đạt từ 11 đến 14 tiêu chí; 13% số xã đạt từ 7 đến 10 tiêu chí; 82,5% số xã đạt dưới 7 tiêu chí (trong đó có 28,2% xã  đạt dưới 3 tiêu chí.Đến hết năm 2011 có khoảng 52% số xã đang tiến hành lập đề án xây dựng nông thôn mới, trong đó có 2.820 xã (chiếm 31%) đã phê duyệt xong.

1.6. Phương thức hoạt động của các hợp tác xã bước đầu được đổi mới, phù hợp hơn với cơ chế thị trường

Một số hợp tác xã hoạt động hiệu quả, tạo lòng tin, mang lại lợi ích cho xã viên, góp phần giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động. Trong tổng số 14.500 hợp tác xã đang hoạt động có 6.372 hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 43,9%, tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng với 3.155 hợp tác xã, chiếm gần 50% số hợp tác xã nông nghiệp của cả nước; 59 hợp tác xã lâm nghiệp chiếm 0,4%; 200 hợp tác xã thuỷ sản, chiếm 1,37%.

II. Những hạn chế, yếu kém

2.1. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thiếu so với yêu cầu

Qua giám sát cho thấy, hầu hết các Bộ, ngành, địa phương đều thiếu vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển của ngành, địa phương. Mặc dù Nhà nước đã chú trọng đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhưng thực tế mới chỉ đáp ứng được khoảng 55-60% yêu cầu, vì vậy chưa phát huy hết tiềm năng trong nông nghiệp, nông thôn. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng so với tỷ lệ trên 70% dân số Việt Nam gắn với nông nghiệp, nông thôn. Nguồn lực đầu tư vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động được  nguồn lực đầu tư của toàn xã hội.

2.2. Công tác lập và thực hiện quy hoạch còn hạn chế, chưa sát thực tế

Mặc dù công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch đã được các cấp, ngành quan tâm hơn trước nhưng nhìn chung chất lượng quy hoạch còn hạn chế, chưa sát thực tế, thiếu tính khoa học, chưa gắn với nguồn lực thực hiện, còn chồng chéo giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành gây lãng phí nguồn lực. Quy hoạch thường xuyên phải điều chỉnh. Một số quy hoạch ngành còn chậm được xây dựng, đặc biệt là còn thiếu các quy hoạch cho các lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu trongnông nghiệp.Quy hoạch phát triển giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng xã hội, nông, lâm nghiệp, thuỷ sản,... chưa thực sự phù hợp với thực tế tại địa phương, phải điều chỉnh rà soát liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện. Công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới còn nhiều khó khăn do chưa có sự hướng dẫn kịp thời của các Bộ, ngành.

2.3. Vẫn còn tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao; một số nơi còn xảy ra  sai phạm trong quản lý đầu tư

Qua giám sát cho thấy nhiều công trình hiệu quả đạt thấp do bố trí vốn đầu tư không đáp ứng tiến độ theo kế hoạch được duyệt, đầu tư thiếu đồng bộ, thi công kéo dài gây lãng phí nguồn lực; chất lượng công tác khảo sát, thiết kế còn chưa đạt yêu cầuảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của công trình; khó khăn về giải phóng mặt bằng, giá cả nguyên vật liệu biến động bất thường, Nhà nước thực hiện chính sách cắt giảm đầu tư công, thời tiết bất thường, mưa lũ kéo dài, năng lực của chủ đầu tư và nhà thầu thi công còn hạn chế, phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần làm tăng mức đầu tư. Trong quản lý, thực hiện đầu tư vẫn còn nhiều sai phạm, qua công tác thanh tra, kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý rất nhiều vi phạm. Nhiều dự án ODA thời gian chuẩn bị kéo dài từ khâu đề xuất đến ký kết điều ước quốc tế cụ thể mất 2-3 năm; khi thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, tốc độ giải ngân nguồn vốn chậm, làm giảm hiệu quả đầu tư.

Cơ chế phân cấp về quyết định đầu tư và phân bổ vốn theo hướng tăng cường quyền quyết định cho các cấp là phù hợp,nhưng thiếu các biện pháp đồng bộ và tăng cường kiểm tra, kiểm soát đã dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án đầu tư mà không tính đến khả năng cân đối về nguồn vốn dẫn tới tình trạng đầu tư bị phân tán, dàn trải, thời gian thi công kéo dài gây lãng phí, thất thoát nguồn lực tài chính của Nhà nước.

2.4. Xoá đói giảm nghèo đã đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng chưa thực sự bền vững, nguy cơ phát sinh nghèo và tái nghèo vẫn ở mức cao; còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định an ninh trật tự nông thôn

Mặc dù trên tổng thể, tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm, nhưng có địa phương tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc[xiv]. Chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng tuy đã đư­ợc rút ngắn nhưng vẫn còn lớn, khoảng cách giữa thu nhập giữa nhóm cao nhất và thu nhập với nhóm thấp trong nông thôn xu hướng tăng lên. Mức thu nhập của hộ nông thôn miền núi và bộ phận nông dân nghèo còn thấp, đời sống còn rất khó khăn; khả năng tái nghèo có thể xảy ra khi gặp thiên tai, dịch bệnh. Một bộ phận người nghèo vẫn còn tâm lý muốn giữ chế độ hộ nghèo để được nhận trợ cấp của Nhà nước; Người nghèo còn rất lúng túng trong việc tự lựa chọn cách thức làm ăn để thoát nghèo,chưa được các cơ quan, chính quyền, hội, đoàn thể quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn nên nên chưa mạnh dạn vay vốn.Tình trạng lao động của các hộ nghèo chưa qua đào tạo, trình độ học vấn thấp, thiếu chuyên môn kỹ thuật và kiến thức làm ăn vẫn còn phổ biến.

Ngoài ra, tình trạng tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai có xu hướng tăng lên; tệ nạn xã hội, vấn đề di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định an ninh, trật tự khu vực nông thôn.

2.5. Cơ sở hạ tầng mặc dù đã được tăng cường đầu tư nhưng nhiều khu vực vẫn còn rất khó khăn

Hệ thống giao thông nông thôn nhiều nơi còn rất khó khăn,vẫn còn 149 xã  trên hơn 9200 xã chưa có đường ôtô đến trung tâm xã, hệ thống đường giao thông nông thôn về cơ bản đã hình thành tuyến nhưng chưa có giá trị cao về phương diện vận tải do mặt đường còn hẹp.Hệ thống thủy lợi tại một số địa phương đầu tư còn thiếu đồng bộ, chưa phát huy được hiệu quả. Đến năm 2011, cả nước vẫn còn 16 xã ở vùng hải đảo, biên giới, vùng cao chưa có điện; có nơi rất cần điện phục vụ sản xuất nông nghiệp nhưng cũng chưa đáp ứng được, có địa phương tỷ lệ người dân được sử dụng điện đạt chưa cao. Hệ thống cấp nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh còn thiếu, các công trình đầu mối về thủy lợi chưa đủ điều kiện ứng phó với biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hóa khu vực nông thôn còn chậm. Cơ sở y tế tuyến huyện, xã còn nhiều hạn chế; đội ngũ y bác sỹ tại các bệnh viện tuyến huyện, xã năng lực còn chưa đáp ứng được yêu cầu nên dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện các tuyến trên.

2.6. Về phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn

- Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa. Việc đầu tư phát triển các loại cây, con giống có năng suất, chất lượng cao[xv], công tác ứng dụng khoa học công nghệ và sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chưa được quan tâm tương xứng.Năng suất một số cây trồng, vật nuôi còn thấp, sản xuất giống chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước vẫn phải nhập khẩu từ bên ngoài;kinh tế hợp tác và Hợp tác xã nông nghiệp có đổi mới nhưng vẫn còncách nghĩ, cách làm cũ; chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn nông thôn. Mức độ áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn thấp; thiếu hệ thống lưu giữ, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch nên hao hụt sau thu hoạch vẫn cao; đầu ra cho sản phẩm cũng chưa ổn định, rủi ro đối với người nông dân còn rất lớn. Trong đầu tư, còn tập trung nhiều cho cơ sở hạ tầng[xvi]mà chưa quan tâm nhiều đến khoa học công nghệ, giống cây trồng để hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.

- Quy hoạch và quản lý quy hoạch rừng chưa tốt; chưa có nhiều mô hình trồng, bảo vệ rừng hiệu quả, mức khoán cho công tác bảo vệ rừng còn thấp. Tình trạng di dân tự do còn diễn biến phức tạp và chưa được giải quyết triệt để, phá rừng vẫn còn diễn ra tác động xấu đến môi trường hiện tại và lâu dài[xvii]. Việc tìm ra hướng đi cho các công ty lâm nghiệp cũng đặt ra nhiều thách thức[xviii].

- Phát triển nghề, làng nghề truyền thống chủ yếu là tự phát, quy mô nhỏ lẻ,chưa xây dựng được thương hiệusản phẩm,không có các nghề cao cấp, tinh xảo; kinh phí đầu tư còn hạn chế, chưa có quy hoạch và lộ trình về bảo tồn và phát triển làng nghề. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa thực sự phát huy được hiệu quả, còn mang tính hình thức; đầu ra cho lao động chưa được đảm bảo.

2.7. Về các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình hỗ trợ có mục tiêu cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Một số nội dung của một số Chương trình chưa đạt được mục tiêu đề ra[xix]; nhiều chương trình được xây dựng cho một mục tiêu nên tồn tại nhiều đầu mối thực hiện, việc lồng ghép cũng khó khăn do mỗi chương trình lại có các quy định khác nhau, chưa có cơ chế, tiêu chí để lồng ghép nguồn vốn trong việc đầu tư xây dựng các chương trình, dự án. Nguồn lực thực hiện các Chương trình đề ra chưa đáp ứng được mục tiêu,lựa chọn một số địa điểm đầu tư không hợp lý, gây tốn kém[xx]. Công tác giám sát, đánh giá chưa thực hiện thường xuyên.

- Công tác tuyên truyền vận động nhân dân về chủ trương xây dựng nông thôn mới của các cấp ủy, chính quyền còn nhiều hạn chế, nhất là xã hội hóa xây dụng nông thôn mới; công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới chậm, thiếu đơn vị tư vấn; quy mô địa bàn rộng lớn, nguồn vốn đầu tư thấp; người dân còn lúng túng tham gia đóng góp ý kiến cho công tác xây dựng quy hoạch;việc phối hợp xây dựng kế hoạch thực hiện của các cấp, các ngành thiếu đồng bộ, thiếu sự gắn kết giữa nhiệm vụ chuyên môn của ngành với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

III. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

3.1. Nguyên nhân khách quan

Đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi nguồn lực rất lớn của Nhà nước cũng như toàn xã hội do địa bàn nông nghiệp, nông thôn rộng lớn, địa hình phức tạp, nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, sản xuất chưa phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, đời sống khó khăn,... trong khi khả năng đầu tư của Nhà nước và toàn xã hội có hạn. Mặt khác, sản xuất nông nghiệp chịu rủi ro cao do sự tác động trực tiếp của thời tiết khí hậu, biến động của môi trường, dịch bệnh,... việc phòng chống, khắc phục hậu quả là rất khó khăn phức tạp nên khó thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia.

Bên cạnh đó, do tác động của khủng hoảng, suy thoái kinh tế trong khu vực và trên thế giới, trong nước tình hình lạm phát cao, Nhà nước phải thực hiện một số chính sách trong đó có việc cắt giảm đầu tư công,… nên việc huy động nguồn lực để đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn những năm qua vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

3.2. Nguyên nhân chủ quan

- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, các cấp chính quyền về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn chưa cao; chưa chủ động, tích cực trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhànước; công tác vận động, khuyến khích người dân, cộng đồng chưa liên tục, chưa phát huy hết nội lực của cả hệ thống chính trị và cộng đồng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Trong quá trình thực hiện đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tình trạng thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả còn xảy ra ở một số dự án,  do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do: (1) Không cân đối được nguồn lực thực hiện khi lập quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư chương trình, dự án; (2) Phân bổ vốn còn dàn đều, đầu tư thiếu tính trọng tâm, trọng điểm, dàn trải dẫn đến tình trạng các công trình dở dang, lãng phí rất lớn nguồn lực, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình, không phát huy được hiệu quả khai thác dự án trong khi thiếu vốn để thực hiện các mục tiêu khác; (3) Năng lực của Chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn còn hạn chế.

- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm làm tốt công tác quy hoạch, chất lượng quy hoạch còn hạn chế, thiếu tính đồng bộ, bao quát và tầm nhìn dài hạn, thiếu vốn để làm công tác quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch còn yếu.

- Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương có lúc thiếu chặt chẽ; thiếu cơ chế gắn kết, lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án trên một địa bàn; giữa hoạt động tín dụng của Ngân hàng chính sách -xã hội với các hoạt động khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao công nghệ,... của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội.

- Năng lực, trách nhiệm của người quản lý, thực hiện đầu tư công có nơi còn yếu kém, vấn đề tham nhũng, làm thất thoát vốn còn xảy ra. Năng lực, nhận thức của một số cán bộ xây dựng chính sách, người quản lý đầu tư còn yếu, thiếu thực tế, chưa bắt kịp sự phát triển.

- Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư công chưa thường xuyên, chậm phát hiện vi phạm và xử lý không kịp thời, chưa nghiêm.

Tóm lại, đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần vào phát triển kinh tế của đất nước; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ngày càng được tăng cường và hoàn thiện, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại; từng bước giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; đảm bảo an sinh xã hội ngày càng tốt hơn, đồng thời có tiến bộ về cải thiện môi trường sinh thái. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung khắc phục trong vài ba năm tới.

PHẦN III

NHỮNG YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ VỀ ĐẦU TƯ CÔNG CHO NÔNG NGHIỆP,

NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

Căn cứ vào báo cáo của Chính phủ, các Đoàn đại biểu Quốc hội, báo cáo của Bộ, ngành, địa phương, Đoàn giám sát thấy rằng các chủ trương theo Nghị quyết của Đảng, các quy định của luật, pháp lệnh của Quốc hội có liên quan đến chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn cần phải tiếp tục nghiêm túc thực hiện, đồng thời xin có một số kiến nghị sau:

1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Đề nghị Quốc hội xem xét, sớm xây dựng, ban hành các luật như: Luật đầu tư công, mua sắm công, Luật quy hoạch, Luật thủy lợi, Luật nông nghiệp, Luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Luật vệ sinh môi trường, Luật thú y, Luật bảo hiểm nông nghiệp,... Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai, ngân sách nhà nước,đấu thầu, đầu tư, xây dựng, hợp tác xã, lao động, hoạt động giám sát, dạy nghề, nhà ở, doanh nghiệp.

- Đổi mới phân cấp quản lý đầu tư công gắn việc quyết định đầu tư với việc phân bổ nguồn lực và cân đối vốn; thực hiện giao kế hoạch đầu tư trung hạn; sửa đổi hoàn thiện quy chế thẩm định dự án, thẩm định vốn, quyết định đầu tư, khắc phục tình trạng mất cân đối vốn như hiện nay. Nghiên cứu sửa đổi cơ chế, tiêu chí phẩn bổ vốn đầu tư theo Quyết định số 60/2010/QĐ- TTg ngày 30/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ, bổ sung các cơ chế, chính sách đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn thông qua tiêu chí phân bổ vốn đầu tư. Xây dựng và ban hành tiêu chí phân bổ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển nói chung, đặc biệt đầu tư phát triển công nghiệp chế biến ‘‘sâu” tạo ra nhiều hơn giá trị gia tăng đối với sản phẩm hàng hóa nông nghiệp.

- Rà soát, sửa đổi quy định về tiêu chí phân bổ nguồn vốn đầu tư, tăng ngân sách nhà nước cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đảm bảo 5 năm từ 2011-2015 cao gấp 2 lần giai đoạn 2006-2010. Tăng vốn đầu tư công phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho các tỉnh nghèo, tỉnh miền núi, những địa phương khó có điều kiện thu hút đầu tư từ các nguồn vốn khác. Đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn theo các chương trình dự án đã được phê duyệt. Cải thiện môi trường đầu tư, có chính sách ưu đãi, khuyến khích, tạo cơ chế, động lực thu hút các thành phần kinh tế đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

- Sớm sửa đổi cơ chế quản lý chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng tăng cường phân cấp cho các địa phương trong việc phân bổ nguồn vốn được giao cho các chương trình mục tiêu quốc gia để thực hiện các mục tiêu đề ra, bảo đảm sử dụng vốn hiệu quả, tránh dàn trải, kéo dài thời gian thực hiện.

- Thiết lập hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, thực hiện công khai hóa thông tin về hoạt động đầu tư công, trong đó có hoạt động đầu tư công cho nông nghiệp, nông thôn.

- Xây dựng các định mức kinh tế- kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành thật chặt chẽ, cụ thể và phù hợp với thực tế để người tham gia đầu tư dễ thực hiện, đồng thời hạn chế thất thoát tiền của nhà nước và xã hội.

- Cần có chính sách ưu tiên tập trung nguồn lực để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn, phát triển những sản phẩm nông nghiệp có lợi thế so sánh của địa phương và đầu tư đảm bảo an sinh xã hội, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, ban hành nhiều chính sách nhưng không có nguồn lực để thực hiện.

- Có chính sách chung về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ học tập, tiếp cận nhanh với tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện.

2. Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý thực hiện theo quy hoạch

Bố trí đủ nguồn lực, tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch, đảm bảo sự thống nhất giữa quy hoạch của các địa phương với quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển của cả nướclàm căn cứ để xây dựng các chương trình và kế hoạch đầu tư trung và dài hạn, quản lý và thực hiện đầu tư nhất quán theo quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch và tăng cường quản lý theo quy hoạch.

3. Về bố trí, phân bổ nguồn vốn đầu tư công

- Có chính sách cân đối bố trí vốn theo định hướng khung kế hoạch hoặc kế hoạch 3-5 năm và giao quyền chủ động cho địa phương phân bổ chi tiết cho từng dự án, công trình cụ thể theo tiêu chí quy định và dưới sự giám sát, kiểm tra của trung ương.

- Phân bổ vốn ngân sách nhà nước tập trung, ưu tiên cho các công trình trọng điểm về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động lớn đến phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương; đặc biệt là ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực xã hội, các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao;các xã, thôn/bản đặc biệt khó khăn; các xã đông đồng bào dân tộc thiểu số.

- Công khai quá trình phân bổ vốn thông qua các quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư; xác định các đối tượng hỗ trợ rõ ràng để tăng tính công bằng, minh bạch trong quá trình thực hiện.

4. Về phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp, nông thôn.

- Xây dựng các mô hình xã hội hóa đầu tư, mô hình quản lý các công trình hạ tầng có hiệu quả, bền vững để nhân rộng, phổ biến, phù hợp cho các vùng nông thôn.

- Nhà nước hỗ trợ một phần và có cơ chế huy động kinh phí để thực hiện duy tu, bảo dưỡng công trình nông nghiệp, nông thôn. Có cơ chế đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Tạo điều kiện để các địa phương chủ động kêu gọi triển khai các hình thức đầu tư BT, BOT, PPP.

- Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho diện tích lúa hai vụ, các vùng cây công nghiệp và nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản tập trung; xây dựng và củng cố hệ thống đê sông, đê biển, khu neo đậu, tránh bão, các công trình ngăn mặn, xả lũ, giữ ngọt, tiêu úng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai trong cả nước. Tăng cường đầu tư phát triển đồng hệ thống giao thông nông thôn, kết nối với đầu mối giao thông chung của cả nước và các trung tâm kinh tế lớn; phát triển hạ tầng điện, đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt khu vực nông thôn.

5. Về các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình mục tiêu, dự án hỗ trợ có mục tiêu khác

- Rà soát các chương trình mục tiêu quốc gia hiện đang thực hiện, tiến hành gộp những chương trình nhỏ lẻ vào các chương trình mục tiêu quốc gia lớn để giảm bớt các đầu mối chương trình; điều chỉnh và xác định rõ các đối tượng thụ hưởng, các hoạt động chủ yếu, cách thức quản lý, cơ quan chủ trì, phối hợp thực hiện, cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá.

- Có kế hoạch và bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia 2011- 2015;cân đối đủ nguồn vốn hỗ trợ cho các chương trình mục tiêu quốc gia theo mục tiêu đã đề ra, trong đó ưu tiên nguồn lực cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; có quyết định giao kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ngay đầu nămđể địa phương xây dựng phương án phân bổ dự toán chi các chương trình; tăng phần vốn đối ứng của Trung ương cho các địa phương đối với các dự án, công trình thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, sớm hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện từng chương trình cụ thể.

- Nâng mức hỗ trợ kinh phí thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng, miền, từng địa phương mà ban hành hướng dẫn cụ thể về xác định tỷ lệ cơ cấu nguồn vốn của chương trình xây dựng nông thôn mới cho phù hợp. Xây dựng khung cơ chế, chính sách hỗ trợ để tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế, đa dạng hóa nguồn lực xây dựng nông thôn mới, huy động nội lực trong dân tập trung xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu bổ sung các thôn vùng sâu, vùng xa của thị trấn miền núi vào đối tượng xây dựng nông thôn mới.Điều chỉnh một số tiêu chí nông thôn mới cho phù hợp với thực tế từng vùng như tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người; cơ cấu lao động; chợ nông thôn; nhà ở dân cư; kiên cố hóa kênh mương; nghĩa trang nhân dân; hợp tác xã hoạt động có hiệu quả,cơ sở vật chất văn hóa. Có chính sách cán bộ xây dựng nông thôn mới thống nhất trong toàn quốc. Tổ chức thực hiện đào tạo, tập huấn cán bộ xây dựng nông thôn mới đặc biệt là lực lượng cán bộ trực tiếp thực hiện xây dựng nông thôn mới.

6. Đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý đầu tư công

- Mở rộng phân cấp, phân quyền quản lý đầu tư công,phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, của từng cấp, ngành từ trung ương đến địa phương và chủ đầu tư trong việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công; tăng cường phân cấp cho các tỉnh thực hiện làm chủ đầu tư một số công trình giao thông, thủy lợi trọng điểm.

- Điều chỉnh cơ chế phân cấp quản lý đầu tư trong thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển của từng vùng miền, đặc biệt là căn cứ theo trình độ của cán bộ từng cấp và quy mô từng loại dự án nhằm đạt hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản cũng như đảm bảo tiến độ chất lượng của công trình.

- Tiếp tục cải cách thủ tục đầu tư gắn với cải cách thủ tục hành chính theo đề án 30 của Chính phủ. Thực hiện nghiêm túc cơ chế một cửa tại các cơ quan quản lý Nhà nước; đơn giản hóa hồ sơ, thời gian giải quyết thủ tục đầu tư, không để ách tắc, tồn đọng làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. Cải cách các thủ tục về xây dựng cơ bản, quản lý vốn sự nghiệp; phổ biến rộng rãi, niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính tại công sở. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra đầu tư.Công tác kiểm tra, giám sát cần duy trì và có kế hoạch cụ thể, rõ ràng, được xây dựng từ đầu năm kế hoạch, tránh chồng chéo trong kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan.Cần có những biện pháp, chế tài mạnh mẽ hơn để xử phạt bằng hành chính và kinh tế đối với các vi phạm của cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan, tổ chức thẩm định, nhà thầu tư vấn thẩm tra, các chủ đầu tư chậm hoàn tạm ứng theo quy định và chậm lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành.

7. Về phát triển sản xuất nông nghiệp

- Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực khoa học-công nghệ, giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản, chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyển giao, sử dụng các kết quả khoa học-công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ cao và công nghệ sinh học; phát triển cơ giới hoá khâu canh tác, công nghệ chế biến sau thu hoạch; lựa chọn bước đi và loại hình công nghệ cao cho phù hợp với điều kiện cụ thể, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ cao.

- Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ thương mại ở nông thôn. Xúc tiến đầu tư, quảng bá các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản, xây dựng thương hiệu, đăng ký xuất xứ hàng hóa chocác sản phẩm nông nghiệp. Chú trọng công tác dự báo nhu cầu thị trường giúp địa phương có định hướng chiến lược cho việc phát triển nông nghiệp; tăng cường phổ biến các tiêu chuẩn của từng loại sản phẩm xuất khẩu để nhân dân biết, tránh thiệt hại bởi các rào cản của các nước nhập khẩu.

- Tiếp tục đầu tư kinh phí cho công tác trồng và bảo vệ rừng; đầu tư xây dựng cơ bản lâm sinh, hạ tầng lâm nghiệp, áp dụng công nghệ sinh học cho công tác giống lâm nghiệp, xây dựng các trung tâm giống quy mô để đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất giống; xây dựng cơ chế vay vốn với lãi suất thích hợp cho việc phát triển vùng nguyên liệu lâm nghiệp. Rà soát lại quỹ đất của các lâm trường, nông trường, trạm, trại sử dụng chưa hiệu quả để giao cho người sử dụng hiệu quả, tạo động lực mới trong việc phát triển. Có chính sách hỗ trợ linh hoạt, giảm thiểu thủ tục hành chính nhằm khuyến khích người dân và các thành phần kinh tế cùng Nhà nước đầu tư trồng rừng; tăng mức hỗ trợ khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Kiện toàn tổ chức bộ máy về bảo vệ và phát triển rừng; có chính sách đãi ngộ đối với cán bộ ngành lâm nghiệp, đặc biệt cán bộ làm ở cơ sở trực tiếp chỉ đạo sản xuất lâm nghiệp trên các địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,...

8. Về chính sách tín dụng

- Phát triển mạng lưới tín dụng nông thôn, tăng thêm các điểm giao dịch của ngân hàng thương mại trên địa bàn nông thôn. Khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay vốn với cơ chế ưu đãi đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các Hội sở Ngân hàng thương mại có chính sách hỗ trợ các chi nhánh ngân hàng thương mại tại các tỉnh miền núi cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tăng mức cho vay vốn phát triển sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác hải sản, phát triển chăn nuôi;sản xuất muối, cải tạo vườn tạp và người trồng lúa. Tiếp tục nghiên cứu cải tiến thủ tục và cơ chế bảo đảm tiền vay cho phù hợp với thực tế.

- Tăng thêm nguồn vốn Ngân hàng chính sách – xã hội để mở rộng cho vay hộ cận nghèo kể cả những xã, phường, thị trấn không phải vùng khó khăn với lãi suất bằng lãi suất cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn nhằm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.

9. Về chính sách thuế

Tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi về thu tiền sử dụng đất, thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, các hợp tác xã nông nghiệp, các loại hình doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân có dự án, công trình đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là các dự án đầu tư áp dụng công nghệ cao, công nghệ chế biến nông, lâm, thủy sản, dự án đầu tư vào các vùng sâu, vùng xa.

10. Về công tác đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân

- Tập trung nghiên cứu ban hành chính sách phát triển ngành nghề nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Cân đối, bố trí đủ vốn đầu tư để hoàn thành đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề theo Đề án. Cócơ chế hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Trung ương đối với các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề cấp huyện mới được thành lập ở các tỉnh các vùng khó khăn. Tập trung ưu tiên kinh phí đầu tư hoàn thiện các trung tâm dạy nghề cấp huyện, nhất là các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ.

- Tiến hành tổng kết, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, từ đó có kế hoạch bổ sung nguồn vốn, góp phần tạo việc làm theo hướng ổn định, bền vững cho lao động nông nghiệp nông thôn; đầu tư nâng cao năng lực hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm tạo cơ hội tiếp cận thông tin thị trường lao động, cơ hội việc làm cho lao động nông thôn, lao động ở vùng sâu, vùng xa.

11. Về chính sách vùng miền núi, dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011-2020,ban hành chính sách khung đối với khu vực dân tộc và miền núi cho từng giai đoạn gắn với quy hoạch tổng thể của vùng và địa phương; xây dựng mới một số chính sách dân tộc.

- Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn. Cần bố trí đủ vốn để thực hiện các chính sách đối với vùng dân tộc và miền núi, xác định rõ mục tiêu cần hỗ trợ, ưu tiên nguồn ngân sách nhà nước phát triển cơ sở hạ tầng, bố trí nguồn lực hợp lý để phát triển sản xuất, sửa đổi nâng mức hỗ trợ đầu tư một số chính sách. Có chính sách đặc biệt ưu đãi đối với khu vực biên giới để người dân yên tâm sinh sống, giữ gìn đất đai vùng biên cương cho tổ quốc.

12. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; vai trò chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp

- Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thông qua việc đưa nội dung kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chương trình, đề án vào trong chương trình công tác hàng năm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đầu tư công nói chung và đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng.

- Nâng cao năng lực giám sát của các chủ thể giám sát, đặc biệt là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân về thu thập, xử lý thông tin, về ý chí và quyết tâm theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.

- Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các Bộ và Ủy ban nhân dân  các cấp phải nhạy bén, kịp thời, phải tổ chức điều hành quyết liệt, bám sát thực tế, bám sát các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư đã ban hành để triển khai nhanh, thống nhất và triệt để. Chỉ đạo đồng bộ, toàn diện nhưng vẫn có trọng tâm, trọng điểm, vừa giải quyết những vấn đề bức xúc vừa gắn liền với tính toán đảm bảo bền vững, lâu dài.

Trên đây là Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đoàn giám sát xin báo cáo Quốc hội.

 


[i] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nông nghiệp trong việc đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội”. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) Đảng ta đã xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục phát triển nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn với thực hiện dân chủ hoá, tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: Chú trọng điện khí hoá ở nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia công và dịch vụ; liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên từng địa bàn và trong cả nước. Hội nghị Trung ương 5, khoá IX, đã ra Nghị quyết về “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”, xác định những quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp lớn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong những năm tiếp theo. Nghị quyết Trung ương 9, khoá IX (năm 2004) xác định chủ trương chú trọng xây dựng các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần Thứ X đã nhấn mạnh "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng"; "Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định rõ 3 nội dung: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn; xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.

[ii]Luật khám bệnh, chữa bệnh ban hành ngày 23/11/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, nhưng đến ngày 27/9/2011 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật mới được ban hành và đến ngày 15/11/2011 mới có hiệu lực thi hành. Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1: “Hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng cho việc chuyển đổi các ban quản lý chợ (đối với các loại chợ do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư) sang doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ”. Nhưng đến nay Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn nên các địa phương đang rất lúng túng trong việc chuyển đổi, nhất là đối với chợ tại địa bàn nông thôn cần có mô hình quản lý của HTX hoặc doanh nghiệp để đầu tư phát triển. Tại khoản 10 Điều 1 quy định Bộ Nội vụ: “Chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn chế độ đối với cán bộ, nhân viên thuộc ban quản lý chợ trong biên chế nhà nước khi chuyển sang doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ.” Nhưng đến nay, Bộ Nội vụ chưa có văn bản hướng dẫn nên các địa phương vướng mắc trong việc việc chuyển đổi. Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến này vẫn chưa có đủ các thông tư hướng dẫn.

[iii]Theo Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị thì các đơn vị chuyên môn về y tế ở địa phương được quản lý theo ngành nhưng về ngân sách, nhiều địa phương thực hiện phân cấp cho huyện, xã dẫn đến không thống nhất về quản lý chuyên môn, nhân lực và ngân sách y tế địa phương, làm hạn chế vai trò tham mưu của sở y tế, cơ quan đứng đầu của y tế địa phương trong việc phân bổ, điều hành ngân sách, nhân lực y tế địa phương cho các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của ngành, trong việc điều tiết giữa các vùng, các đơn vị trên địa bàn (Báo cáo số 158/BC-BYT ngày 08/3/2012 của Bộ Y tế về tình hình đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn)

[iv] Việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định thời hạn hỗ trợ lãi suất quá ngắn nên các hộ nông dân nghèo không có khả năng hoàn vốn đúng hạn; điều kiện, thủ tục cho vay chặt chẽ hơn so với điều kiện, thủ tục cho vay thông thường (chỉ hỗ trợ đối với các khoản vay để mua hàng hóa sản xuất trong nước; phải có xác nhận của UBND cấp xã về đối tượng và mục đích sử dụng vốn vay…) nên khả năng tiếp cận nguồn vốn của nông dân rất hạn chế. Chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP còn bất cập, khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của người sản xuất nông nghiệp ở một số địa bàn còn hạn chế. Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản quy định việc mua máy móc, thiết bị sản xuất trong nước do các tổ chức, cá nhân sản xuất có giá trị sản xuất trong nước trên 60% thực tế khó thực hiện do chất lượng máy móc trong nước chưa bảo đảm yêu cầu, người dân không thiết tha vay.

[v] Đầu tư cho phát triển sản xuất các ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 153.548 tỷ đồng, bằng 35,48% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn là 279.240 tỷ đồng, bằng 64,52% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

[vi] Đầu tư cho phát triển sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 47.684 tỷ đồng, bằng 32,5% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn là 98.891 tỷ đồng, bằng 67,5% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

[vii]Năm 2009, tổng vốn đầu tư bố trí cho lĩnh vực này là 90.006 tỷ đồng, tăng 45% so với năm 2008; năm 2010, tổng vốn đầu tư là 94.754 tỷ đồng, tăng 5,3% so với năm 2009; năm 2011, tổng vốnđầu tư là 100.615 tỷ đồng, tăng 6,7% so với năm 2010.

[viii]Trong đó: Vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước là 197.937 tỷ đồng, bằng 50,7% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước; Vốn trái phiếu Chính phủ là 88.275 tỷ đồng, bằng 56,2% tổng vốn trái phiếu Chính phủ.

[ix]Mỗi năm Nhà nước bố trí từ 7 đến 8 ngàn tỷ đồng chủ yếu dành sử dụng xử lý hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, lụt bão, dịch bệnh,…;  chi hơn 2 ngàn tỷ đồng hỗ trợ nông dân thông qua chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp và khoảng 8 ngàn tỷ đồng vốn thu từ xổ số kiến thiết hàng năm được ưu tiên tập trung cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.

[x]Tính đến 31/12/2011, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của các tổ chức tín dụngđạt 499.056 tỷ đồng, tăng 30,64% so với 31/12/2010 và gấp hơn 3 lần so với dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn tại thời điểm 31/12/2006. Dư nợ cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội đến ngày 31/12/2011 là 103.731 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cuối năm 2010 và tăng gấp 4,3 lần so với dư nợ cuối năm 2006.

[xi]Hệ thống công trình thủy lợi vùng Đồng bằng sông Hồng, Hồ Cửa Đạt, Hồ Sông Sào, cống Đò Điểm,  công trình thủy lợi Ngàn Trươi-Cẩm Trang, hồ Bản Mồng, Hồ Tả Trạch, cống đập Thảo Long (vùng Bắc Trung Bộ); hồ Nước Trong, công trình thủy lợi Định Bình, hồ Hoa Sơn, hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, hệ thống thủy lợi Tà Pao (vùng Nam Trung Bộ); Hồ Đăk Yên, Ia Ring, Ea MLá, Ka La, Đak Lông Thượng, Krông Buk Hạ, Krông Pách Thượng, Ia Mơ (vùng Tây Nguyên); hệ thống thủy Lợi Phan Rí-Phan Thiết, hệ thống thủy lợi sông Ray, dự án thủy lợi Phước Hòa (vùng Đông Nam Bộ), hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre, Dự án đê biển Ba Tri, Dự án Hương Mỹ, Dự án Cầu Sập,...

[xii] Từ năm 2006 đến năm 2010 đã củng cố, nâng cấp được 325 km (trong tổng số 1.694 km) và hiện đang triển khai củng cố, nâng cấp cho 439 km.

[xiii]Năm 2006: 241,59 tỷ đồng, năm 2007: 268,9 tỷ đồng; năm 2008:299,9 tỷ đồng; năm 2009: 330,9 tỷ đồng; năm 2010: 366,05 tỷ đồng; năm 2011: 406,85 tỷ đồng.

[xiv]Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Điện Biên là 45,28%, Lai Châu 38,8%, Hà Giang 35,38%, Lào Cai 35,29%, Yên Bái 32,53% theo tiêu chí mới. Huyện Sapa, tỉnh Lào cai, có tổng cộng 18 đơn vị hành chính nhưng chỉ có thị trấn Sapa là nơi có mức sống khá, còn lại 17 xã vẫn ở trong tình trạng khó khăn đến rất khó khăn.

[xv]Trong 5 năm 2006-2010, nhà nước đầu tư hơn 400 tỷ cho lĩnh vực phát triển cây, con giống.

[xvi]Tính riêng nguồn  đầu tư­ qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thủy lợi chiếm trên 79% tổng nguồn

[xvii]Tại buổi làm việc với Đoàn giám sát ngày 4/4/2012, đại điện lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã báo cáo do tình trạng di dân tự do tại địa phương khá phức tạp, chặt phá rừng nghiêm trọng đã ảnh hưởng rất xấu đến môi trường, mực nước ngầm từ năm 2005 đến nay đã giảm khoảng 6m, làm gia tăng nguy cơ sa mạc hóa.

[xviii]Tại tỉnh Đắk Lắk: phần lớn Công ty Lâm nghiệp rơi vào cảnh nợ đọng ngân hàng, nợ lương công nhân, kinh doanh thua lỗ, thiếu vốn đầu tư sản xuất… Trước đây, nguồn thu chủ yếu của các Công ty Lâm nghiệp vẫn là tiền bán gỗ khai thác rừng tự nhiên theo kế hoạch hàng năm. Tuy nhiên, hiện nay nhiều Công ty không còn chỉ tiêu khai thác gỗ. Vì thế, không còn nguồn thu trong khi yêu cầu doanh nghiệp phải tự chủ đã gây khó khăn rất lớn. Các Công ty mở rộng đầu tư kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng, chi phí lãi vay chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm và dẫn đến thua lỗ. Sau khi chuyển đổi, nhiều Công ty Lâm nghiệp vẫn hoạt động theo mô hình truyền thống với nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ rừng, nhưng rừng vẫn bị phá nghiêm trọng.

[xix]Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Về cấp nước: đến hết năm 2010 có 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (mục tiêu là 85%), trong đó có 40% sử dụng nước sạch đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt(mục tiêu là 50%). Về vệ sinh môi trường: đến hết năm 2010 có 55%số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh (mục tiêu là 70%); 40% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh (mục tiêu là 70%); Có 80% số nhà trẻ, trường học, trạm xá, 48% số chợ, 70% số trụ sở có đủ nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh (mục tiêu là 100%); Chương trình MTQG giảm nghèo: Số lượng hồ nghèo được chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn trong giai đoạn 2006-2010 là khoảng 3,7 triệu hộ, thấp hơn mục tiêu đề ra là 4,2 triệu hộ; Số lượt hộ học sinh được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường đạt khoảng 16,4 triệu lượt người, thấp hơn mục tiêu đề ra là 19 triệu lượt người.

Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ, phần lớn các hộ thuộc diện mua nhà ở trả chậm trong các cụm, tuyến dân cư vượt lũ đều là dân nghèo, thiếu đất sản xuất, khi vào định cư trong cụm tuyến dân cư vượt lũ, môi trường sống thay đổi, chi phí cho cuộc sống sinh hoạt cao hơn, không có việc làm, mặc dù Nhà nước cho vay, thời gian trả nợ dài nhưng vẫn không dám nhận nhà, làm giảm hiệu quả thực hiện chương trình.

[xx]Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: chương trình di dân định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, tại tỉnh Lai Châu, suất đầu tư cho 1 hộ định canh định cư quá cao, gần 1 tỷ đồng/hộ tương đương với ngân sách trung ương hỗ trợ cho xã 135 trong 1 năm: Dự án Dèn Thàng (xã Pa Vệ Sủ) 877 triệu đồng/1hộ; Dự án The La cò (xã Thu Lúm) 783 triệu đồng/1hộ; Dự án Pa ủ (xã Pa ủ) 934 triệu đồng/1hộ,…


Đoàn Giám sát của UBTV QH  (Cập nhật ngày 16-05-2012)    



     Tin đọc nhiều
     Hình ảnh hoạt động
     Video
Lịch công tác
Đại biểu nhân dân
Cổng thông tin  điện tử
Dự thảo online
Báo Bình Định
Đời Sống & Pháp luật
Công báo Chính phủ
Công báo Bình Định
     Tìm kiếm tin tức
Từ khóa:
Mục tin:
     Thông tin cần biết
Thời tiết
     Liên kết
     Thống kê người dùng
  Đang online:               4
  Số lượt truy cập: 720873
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 01 Trần Phú - Thành phố Quy Nhơn - Bình Định
Tel:056.3824849 - Fax:056.3824448 - Email: binhdinh@qh.gov.vn
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT - Viễn thông Bình Định (ITA)